Dịch thơ: Huệ Chi
菊花百詠其三
重陽時節今朝是
故國黃花開未開
卻憶琴樽前日雅
幾回搔首賦歸來
Trùng dương thời tiết kim triêu thị
Cố quốc hoàng hoa khai vị
khai
Khước ức cầm tôn tiền nhật nhã
Kỷ hồi tao thủ phú quy lai
Dịch nghĩa:
Vịnh hoa cúc (bài 3)
Sáng nay là tiết Trùng Dương,
Không hiểu hoa vàng nơi quê cũ đã nở chưa?
Lại nhớ tới thú vui tao nhã uống
rượu gảy đàn ngày trước,
Mấy lần gãi đầu làm bài thơ "quy lai".
Dịch thơ:
I
Sớm nay lại đến tết Trùng Dương,
Hoa nở hay
chưa? – chốn cố hương;
Nhớ thú rượu đàn vui thuở trước,
Vò đầu mấy bận viết về
vườn.
II
Sớm nay vừa tiết trùng dương,
Chẳng hay quê cũ hoa vàng nở chưa?
Rượu
đàn chạnh nhớ thú xưa,
Vò đầu, mấy bận làm thơ "đi về".
Chú thích:
- Trùng Dương, ngày 9 tháng 9 âm lịch. Âm dương gia
gọi số 9 là số dương, mồng 9 tháng 9 là hai sô dương nên gọi là Trùng Dương.
- Quy lai: Đào Tiềm đời Tấn (Trung Quốc) khi bỏ quan về nhà có làm bài “Quy khứ lai
từ”, nói lên tình cảm cao khiết của người ở ẩn đối với ruộng vườn và nỗi nhọc
nhằn của kẻ làm quan. Ở đây, Trương Hán Siêu có ý nói mình cũng muốn nghỉ quan.
No comments:
Post a Comment