Showing posts with label Ngô Văn Phú. Show all posts
Showing posts with label Ngô Văn Phú. Show all posts

Sep 15, 2015

Hiểu lũng quán phu



Tác giả: Cao Bá Quát 高伯适

曉隴灌夫
霚裡雙槔迅手牽
腹枵唇戰短蓑穿
百尋破草長堤陌
五尺新秧上畔田

Vụ lý song cao tấn thủ khiên
Phúc hiêu thần chiến đoản thoa xuyên
Bách tầm phá thảo trường đê mạch
Ngũ xích tân ương thượng bạn điền

Dịch nghĩa: Người tát nước đồng cao buổi sáng 

Trong sương mù tay lôi chiếc gầu đôi thoăn thoắt,
Bụng đói, môi run, khoác chiếc áo tơi ngắn;
Cạnh đê dài, hàng trăm tầm cỏ vừa phá hoang,
Mảnh ruộng bờ trên có năm thước mạ vừa gieo.

Dịch thơ:

I 
Đôi gầu thoăn thoắt trong sương giá,
Tơi ngắn, môi run, bụng đói meo;
Đê dài, cỏ dại trăm tầm rẫy,
Năm thước đồng cao mạ mới gieo. 
                                   Đỗ Quang Liên
 
II 
Gầu dây, sương lạnh, tay lôi,
Môi run, bụng đói mảnh tơi khoác ngoài;
Đất vỡ cỏ, lối đê dài,
Mạ non mới quải ước vài ba vuông.
                                                  Ngô văn Phú





Chú thích: 
- Chiếc gầu đôi không rõ, nếu tát đôi gầu dây thì cần 4 người, 2 người kéo chung một chiếc gầu. 
- Tầm: Đơn vị đo chiều dài ngày xưa, một tầm bằng 8 thước. Thước bằng 0.40 mét.






Apr 8, 2015

Đinh hoàng sơn miếu



Tác giả: Ninh Tốn 寜遜 (1743-?)
丁皇山廟
勁氣雄心括海山
廟留遺像五雲端
臨題追憶當年事
千載猶開墨客顏

Kính khí hùng tâm quát hải sơn 
Miếu lưu di tượngngũ vân đoan 
Lâm đề truy ức đương niên sự 
Thiên tải do khai mặc khách nhan

Dịch nghĩa:  
Miếu vua Đinh trên núi  
Khí tiết cứng mạnh,lòng hào hùng bao quát cả núi biển, 
Núi còn để lại pho tượng ở chỗ mây năm sắc; 
Lúc đề thơ, nhớ lại việc thưở ấy, 
Nghìn năm còn mở mặt với khách văn chương.

Dịch thơ: Ngô Văn Phú

I  
Chí khí cao vời trùm núi sông,  
Miếu lưu tượng cũ sắc mây trùm; 
Đề thơ nhớ lại chuyện năm ấy, 
Rạng mặt làng văn mãi mãi còn. 

Dịch thơ: Đỗ Quang Liên 

II 
Cao với chí khí trùm núi sông, 
Tượng cũ trong mây giữa miếu đường; 
Lên núi đề thơ ôn thuở trước, 
Ngàn năm rạng mặt khách văn chương. 

III 
Tượng thờ giữa miếu ngang mây, 
Tâm hùng tiết cứng tràn đầy núi sông; 
Đề thơ nhớ thuở hào hùng, 
Rạng danh cho khách văn chương ngàn đời. 

IV 
Hùng tâm trùm cả núi sông, 
Tượng xưa ngự giữa miếu đường trong mây; 
Đề thơ nhớ thuở trước đây, 
Ngàn năm rạng rỡ mặt mày khách văn.





Chú thích: 
- Đinh Tốn tên chữ là Khiêm Như, Hà Chi, hiệu Mẫn Hiên, Chuyết Sơn cưu sĩ, quê Côi Trì, Yên Mô, Ninh Bình, đỗ Hương cống năm 19 tuổi, làm quan thời chúa Trịnh Sâm, soạn Quốc sử. Sau này ông đỗ Tiến sỹ, thăng Công bộ tả thị lang, sau lại làm quan với nhà Tây Sơn đến chức Thượng thư bộ binh. Tác phẩm: Chuyết Sơn thi tập, Tây Bộ mạn hứng. 
- Miếu thờ vua Đinh: ở xã Phúc Lai, Ý Yên, Nam Định (chú của tác giả).





Apr 7, 2015

525. Vô đề



Tác giả: Lê Hữu Trác 黎有琢 (1720-1791)
無題
無藥可醫卿相命
有心應對鬼神知
世間惟有芳名在
富貴浮雲本自欺

Vô dược khả y khanh tướng mệnh  
Hữu tâm ứng đối quỷ thần tri 
 Thế gian duy hữu phương danh tại  
Phú quý phù vân bản tự khi

Dịch nghĩa:  
Không đề 
Không có thuốc chữa được mệnh cho khanh tướng, 
Lòng này chỉ có quỷ thần biết; 
Ở đời chỉ có tiếng thơm lưu mãi, 
Giầu sang như mây nổi tự dối lòng.

Dịch thơ: Ngô Văn Phú 

I 
Không có thuốc chữa cho mệnh khanh tướng,
Quỷ thần chứng giám tấm lòng ta; 
Tiếng thơm là thứ đời lưu lại, 
Mây nổi giàu sang, tự dối mà! 

Dịch thơ: Đỗ Quang Liên 

II 
Thuốc đâu chữa bệnh tướng, khanh, 
Tấm lòng ta có quỷ thần biết cho; 
Đời lưu lại tiếng thơm tho, 
Giàu sang mây nổi, vốn lo dối mình. 

III 
Chữa sao nổi mệnh công khanh, 
Lòng lành đã có thần minh tỏ tường; 
Trên đời còn lại tiếng thơm,
Giàu sang mây nổi ta thường xem khinh!





Chú thích: 
Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng lãn ông, người làng Liêu Xá, Cẩm Giàng (nay là Yên Mỹ), Hải Dương. Con gia đình quan lại, có theo đòi kinh sử, học tập binh thư, sung vào quân đội chúa Trịnh. Sau về quê mẹ ở Hương Sơn làm thuốc, từng được vời về Kinh chữa bệnh cho cha, con Trịnh Sâm, Trịnh Cán. 
Tác phẩm: Y tông tâm lĩnh, Dương án, Âm án, Thượng kinh ký sự, …





Apr 6, 2015

Long hồ ngọa bệnh



Tác giả: Nguyễn Cư Trinh 阮居楨 (1716-1767)
龍湖卧病
五九浮名又一年
無能偏有武侯煩
天朦瘴癘客多病
豈意龍蛇妒誹賢

Ngũ cửu phù danh hựu nhất niên
Vô năng thiên hữu võ hầu phiền 
Thiên mông chướng lệ khách đa bệnh 
Khởi ý long xà đố phỉ hiền

Dịch nghĩa: 
Nằm ốm ở Long hồ 
Lại thêm một năm nữa của tuổi năm mươi chín đeo đẳng hư danh, 
Không tài cán mà việc cũng nhiều như việc Võ Hầu; 
Trời đầy lam chướng nên khách mang nhiều bệnh, 
Há đâu hạn Rồng, Rắn lại ghét cả người hiền.

Dịch thơ: 

I 
Năm chín hư danh, thêm một năm, 
Võ Hầu đống việc, thiếu tài năng; 
Trời nhiều lam chướng, người nhiều bệnh, 
Cái hạn Long Xà ghét bỏ chăng. 
                                             Ngô Văn Phú 

II 
Sáu mươi năm bám hư danh, 
Bất tài, việc bộn hơn anh Võ Hầu; 
Chướng khí nhiều, khách ốm đau, 
Chăng là Rồng, Rắn ghét đâu người hiền. 
                                                     Đỗ Quang Liên 





Chú thích: 
- Nguyễn Cư Trinh, tên chữ là Nghi, hiệu Đoan Am, quê An Hòa, Hương Trà, Thừa Thiên, làm quan thời chúa Nguyễn Võ Vương, có nhiều kế sách mở mang kinh tế, giúp chúa Nguyễn có công. Thời quyền thần Trương Phúc Loan, ông vẫn sống cương trực, luôn tố cáo những tệ hại do Loan gây ra, mà Loan cũng không làm gì nổi. Tác phẩm: Sãi vãi, Đạm Am thi tập. 
- Võ Hầu: tức Gia Cát Lượng, mưu thần nhà Hán. 
- Long, Xà: Năm Thìn là năm Rồng, năm Tỵ là năm Rắn, những năm này thường có hạn. Thơ cổ Trung Quốc: “Tuế ư long xà hiền nhân ta” nghĩa là tuổi đến năm Rồng, năm Rắn, người hiền cũng phải kêu ka.






Apr 5, 2015

Thành đông cư



Tác giả: Đặng Minh Bích 鄧明碧
城東居
歸得城東地一弓
市喧不到此湖中
可人詩思年年有
月下梅敲竹裡風

Quy đắc thành đông địa nhất cung
Thị huyên bất đáo thử hồ trung 
Khả nhân thời tứ niên niên hữu 
Nguyệt hạ mai xao trúc lý phong

Dịch nghĩa:  
Nhà ở phía Đông thành 
Có được một mảnh đất phía Đông thành, 
Sự ồn ào của phố xá không đến được trong hồ; 
Khá thay tứ thơ luôn luôn vẫn có,
Dưới trăng, cành mai xao động, gió qua khóm trúc.

Dịch thơ: 

I 
Ở phía Đông thành, đất một khoanh, 
Ồn ào đâu tới chốn hồ xanh; 
Cũng may năm tháng, thơ còn tứ, 
Mai ngát, trăng thanh, trúc động cành. 
                                             Ngô Văn Phú 

II 
Còn một mảnh đất thành Đông, 
Ồn ào phố xá, riêng lòng lâng lâng; 
Ý thơ ngày tháng ung dung, 
Mai lồng trăng rọi, trúc mừng gió đưa. 
                                                          Hoa Bằng 

III 
Trở về mảnh đất thành Đông, 
Ồn ào phố chợ chẳng vương mặt hồ; 
Năm năm dào dạt tứ thơ, 
Mai vờn ánh nguyệt, gió lùa khóm tre. 
                                                    Đỗ Quang Liên 





Chú thích: 
Đặng Minh Bích quê làng Bạch Đường, huyện Nam Đàn, Nghệ An, đỗ Tiến sỹ năm 1484, đời Lê.