Showing posts with label Trần thi. Show all posts
Showing posts with label Trần thi. Show all posts

Jul 9, 2014

Tống nguyên sứ thi



Tác giả: Trần Nghệ Vương 陳藝王

送元使詩
安南老相不能詩
空對金樽送客歸
圓傘山高瀘水碧
遙瞻玉節五雲飛


An nam lão tướng bất năng thi 
Không đối kim tôn tống khách quy 
Viên tản sơn cao lô thủy bích 
Dao chiêm ngọc tiết ngũ vân phi.

Dịch nghĩa:  
Thơ tiễn sứ giả nhà Nguyên 
Lão Tể tướng nước An Nam không thạo làm thơ, 
Ngồi suông trước chén vàng tiễn khách ra về; 
Núi Tản Viên cao, giòng Lô nước biếc, 
Vời trông theo cờ sứ bay vào năm thức mây.

Dịch thơ: 

An Nam lão tướng chẳng hay thơ, 
Không lẽ ngồi suông buổi tiễn đưa; 
Núi Tản Viên cao, Lô nước biếc, 
Vời trông cờ tiết dẫn mây về. 
                                               La Sơn 

II 
An Nam lão tướng vụng thi, 
Nâng suông chén ngọc tiễn đưa sứ thần; 
Sông Lô, núi Tản tần ngần, 
Vời trông cờ tiết mây lành gió đưa! 
                                                    Đỗ Quang Liên 




Jun 27, 2014

330. Tứ mại thi



Tác giả: Trần Minh Vương 陳明王
賜邁詩
烏臺久矣噤無聲
整頓朝綱事匪輕
殿上昂藏鷹虎氣
男兒到此是功名

Ô đài cửu hĩ cấm vô thanh 
Chỉnh đốn triều cương sự phỉ khinh 
Điện thượng ngang tàng ưng hổ khí 
Nam nhi đáo thử thị công danh.

Dịch nghĩa:  
Thơ ban cho ông Mại 
Đã lâu rồi, chốn đài Ô câm bặt tiếng,   
Chỉnh đốn triều cương không phải việc dễ; 
Trên điện chầu, tỏ chí khí ngang tàng như hổ, như chim cắt, 
Kẻ làm trai như thế mới là có công danh.

Dịch thơ: 

Bấy lâu im tiếng chốn Ô đài, 
Chỉnh đốn triều cương há chuyện chơi; 
Hùm, cắt ngang tàng nơi điện ngọc, 
Công danh đến thế xứng tài trai. 
                                     Đào Phương Bình 

II
Đài Ô im tiếng đã lâu, 
Triều cương chấn chỉnh việc đâu xem thường! 
Hổ, ưng khí phách hiên ngang, 
Làm trai như thế xứng đàng công danh.
                                                      Đỗ Quang Liên



Chú thích: 
- Trần Minh Vương tức Trần Minh Tông (1314-1329). 
- Đài Ô nghĩa đen là “Đài chim quạ” chỉ đài Ngự sử. Theo Hán thư: đời Hán, cạnh đài Ngự sử trồng nhiều cây bách, hàng ngày quạ đậu rất nhiều, nên người ta còn gọi Đài Ngự sử là Ô đài.



Jun 26, 2014

Tầm u



Tác giả: Trần Cung Tín 陳恭信
尋幽
橋七八重虹宛轉
水東西折緑縈迴
不因看石尋梅去
安得昇平宰相來

Kiều thất bát trùng hồng uyển chuyển 
Thủy đông tây chiết lục oanh hồi 
Bất nhân khán thạch tầm mai khứ 
An đắc thăng bình tể tướng lai

Dịch nghĩa:  
Tìm chốn u nhàn 
Cầu bảy tám lớp như cầu vồng uốn lượn, 
Nước Đông, Tây gấp khúc, màu xanh chảy quanh co; 
Không nhân dịp đi tìm mai, ngắm đá, 
Sao có được buổi thăng bình để Tể tướng đến chơi.

Dịch thơ: 

Mấy lớp cầu vồng thâm thấp xây, 
Nao nao giòng biếc rẽ Đông, Tây; 
Không vì thưởng thức mai cùng đá, 
Ai dễ đưa quan đến chốn này. 
                                              Tuấn Nghi 

II 
Cong cong mấy lớp cầu vồng, 
Đông Tây uốn khúc lòng vòng dòng xanh; 
Chẳng vì đá núi, mai cành, 
Làm sao có buổi thăng bình quan chơi. 
                                             Đỗ Quang Liên



Chú thích: 
Trần Cung Tín tức Cung Tín Vương, tên thật là Trần Thiên Trạch. Theo Toàn Việt thi lục thì bài thơ này vốn có đầu đề là “Đề Phạm Ngũ Lão điện súy gia trang”.




Jun 25, 2014

Thi ngôn tự phụ



Tác giả: Trần Ái Sơn 陳爱
詩言自負
又曰
窗畔香雲暗碧紗
平分午睡不禁茶
相思在望豋搂怯
一樹木棉紅盡花

Song bạn hương vân ám bích sa  
Bình phân ngọ thụy bất câm trà 
Tương tư tại vọng đăng lâu khiếp 
Nhất thụ mộc miên hồng tận hoa

Dịch nghĩa: 
Thơ nói lên lòng tự phụ 
Lại có thơ rằng:
Mây thơm bên song phủ mờ màn the biếc, 
Bình thường ngủ trưa dậy chẳng kiêng chè; 
Đang khi trông nhớ nhau, sợ bước lên lầu, 
Cả một cây gạo nở đầy hoa đỏ.

Dịch thơ:

Trước cửa mây vờn ám sắc the, 
Ban trưa, thôi cũng chẳng kiêng chè; 
Tương tư ngại bước lên lầu vắng, 
Hoa gạo bên đường thắp đỏ hoe.
                                                 La Sơn

II 
Bên song mây rỡn màn the, 
Giấc trưa chẳng ngủ kiêng trà mà chi; 
Lên lầu lại sợ tương tư, 
Cây hoa gạo thắp đỏ hoe một trời.
                                                          Đỗ Quang Liên