Showing posts with label Phạm Tú Châu. Show all posts
Showing posts with label Phạm Tú Châu. Show all posts

Jan 24, 2014

220. Trùng đáo quỳnh lâm bích động am lưu đề

Tác giả: Nguyễn Sưởng 阮昶 
重到琼林碧洞庵留題
花表風吹騎去鶴
草廬雲護卧崗龍
蒼生一念堪惆悵
月冷琼林半夜鐘

Hoa biểu phong xuy kỵ khứ hạc
Thảo lư vân hộ ngoạ cương long 
Thương sinh nhất niệm kham trù trướng 
Nguyệt lãnh quỳnh lâm bán dạ chung

Dịch nghĩa: 
Đề thơ khi trở lại am Bích Động ở Quỳnh Lâm 
Gió thổi cột hoa biểu, hạc cưỡi đã bay đi,
Mây che mái nhà tranh, rồng nằm ở trên gò;
Mỗi lần nghĩ tới dân chúng lại ngậm ngùi,
Ánh trăng phả lạnh tiếng chuông chùa Quỳnh Lâm lúc nửa đêm.

Dịch thơ: 
Gió vờn trụ đá, hạc lên tiên,
Mây phủ nhà tranh, rồng nghỉ yên;
Chợt nghĩ đến dân rầu khúc ruột,
Chuông Quỳnh lạnh thấm ánh trăng đêm. 
                                                    Phạm Tú Châu 

II 
Gió vờn trụ đá, hạc bay, 
Mây che am cỏ, đồi say rồng nằm; 
Thương dân lòng dạ băn khoăn, 
Sương đêm thấm lạnh chuông rền Quỳnh Lâm. 
                                                                 Đỗ Quang Liên.


Chú thích: 
- Quỳnh Lâm, chùa do nhà sư Không Lộ đời Lý xây dựng, ở xã Hà Lôi, Đông Triều, Quảng Ninh ngày nay. Nơi đây, vua Trần Thái Tông nhiều lần đến thăm. 
- Hoa biểu: tên gọi trụ đá ghi công trạng hoặc dựng trước phần mộ. Lúc này, Trần Quang Triều đã mất. 
- Sách Hán Vũ ghi: xưa, Phí Văn Vi tu tiên đắc đạo, bèn cưỡi hạc bay đi, ý nói Trần Quang Triều đã mất.
- Khổng Minh khi chưa ra giúp Lưu Bị, ẩn dật trong ngôi nhà tranh trên gò Ngọa Long, hiệu là Ngọa Long tiên sinh. Tác giả mượn điển này để ví Trần Quang Triều với Gia Cát Lượng.





Jan 20, 2014

Giang hành

Tác giả: Nguyễn Sưởng 阮昶
江行
岸轉樹斜出
溪深花倒開
晚霞孤鳥沒
曉雨片帆來

Ngạn chuyển thụ tà xuất 
Khê thâm hoa đảo khai 
Vãn hà cô điểu một 
Hiểu vũ phiến phàm lai

Dịch nghĩa: 
Đi trên sông 
Khúc sông quanh cây nghiêng nghiêng hiện ra,
Suối sâu, hoa nở ngược dưới nước;
Chim lẻ khuất trong ráng chiều,
Buồm lướt dưới mưa buổi sáng sớm.

Dịch thơ: 
Cây uốn nghiêng bờ lượn,
Hoa cười ngược suối sâu; 
Chim chìm trong ráng muộn, 
Buồm lướt sớm mưa mau. 
                              Phạm Tú Châu 

II 
Bờ quanh, cây ngả nghiêng nghiêng, 
Hoa cười nở ngược dưới ghềnh nước sâu, 
Chim côi lẩn giữa ráng chiều, 
Sớm mai buồm lướt cánh diều trong mưa. 
                                                          Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
Nguyễn Sưởng hiệu là Thích Liên, sống cùng thời với Trần Quang Triều (1286-1325) và mất sau Quang Triều. Ông tham gia thi xã Bích Động do Trần Quang Triều sáng lập. Quang Triều là người tri kỷ được ông đánh giá cao, kính trọng và yêu mến nhất. Trong 16 bài thơ còn lại của ông đã có đến 5 bài dành cho Quang Triều. Trong thơ, ông rất ít nói về mình, dành nhiều tình cảm cho thiên nhiên. 
Thơ ông giản dị, trong sáng, giàu tình cảm và trau chuốt. Đó cũng là đặc điểm của của thơ đời Trần nói chung, và của thi xã Bích Động nói riêng.



Nov 6, 2013

Đề Liêu Nguyên Long tống hoạ cảnh phiến

Tác giả: Trần Quang Triều 陳光朝
題寥元龍送畫景扇 
南國那堪入畫圖
新安池館長菰蒲
年年領攬閑風月
竹外一聲啼鷓鴣

Nam quốc na kham nhập hoạ đồ 
Tân an trì quán trưởng cô bồ 
Niên niên lãnh lãm nhàn phong nguyệt 
Trúc ngoại nhất thanh đề giá cô

Dịch nghĩa: 
Đề chiếc quạt vẽ phong cảnh do Lê Nguyên Long tặng
Phong cảnh nước Nam khó có thể đưa vào tranh vẽ, 
Ao, quán Tân An mọc tốt niềng niễng với cói; 
Hàng năm thâu lượm cảnh trăng gió thảnh thơi, 
Ngoài rặng trúc, một tiếng chim đa đa kêu.

Dịch thơ:
I
Cảnh Nam hồ dễ vẽ nên tranh, 
Ao, quán Tân An niễng, cói xanh; 
Một tiếng đa đa ngoài rặng trúc,
Năm năm thâu lượm gió trăng thanh. 
                                            Phạm Tú Châu 

II
Cảnh Nam khó vẽ nên tranh, 
Tân An ao, quán cói xanh mướt bờ; 
Rặng tre một tiếng giá cô, 
Thảnh thơi trăng gió tha hồ tháng năm. 
                                                Đỗ Quang Liên
 



Nov 4, 2013

Điếu tẩu

Tác giả: Trần Quang Triều (1286-1325) 陳光朝
釣叟
遯浪吹潮上碧灘
櫓聲移入碧雲寒
幾回薄餌懸鐘鼎
那重桐江一釣竿

Độn lãng xuy triều thướng bích than 
Lỗ thanh di nhập bích vân hàn 
Kỷ hồi bạc nhị huyền chung đỉnh 
Na trọng đồng giang nhất điếu can

Dịch nghĩa: 
Ông già câu cá 
Sóng cá dồn đẩy nước triều lên dòng thác biếc, 
Tiếng mái chèo đưa hơi lạnh vào mây xanh; 
Đã bao lần coi nhẹ miếng mồi treo chuông vạc, 
Mồi ấy đâu có nặng bằng chiếc cần câu bên sông Đồng.

Dịch thơ: 
I
Thác biếc triều dâng sóng cá heo, 
Mây lồng hơi lạnh tiếng bơi chèo; 
Đồng Giang cần trúc từng xem nặng, 
Hơn cả mồi câu vạc đỉnh treo. 
                                   Phạm Tú Châu 

II 
Sóng dồn triều ngược bãi cao,   
Tiếng chèo khỏa khí lạnh vào mây xanh;   
Bao lần cởi bả lợi danh, 
Chi bằng thanh thản đầu ghềnh buông câu. 
                                                            Đỗ Quang Liên

Chú thích: 
- Cá đồn tức cá heo, người xưa cho rằng khi nào cá này nổi lên là biển có gió to sóng giữ. 
- Chuông vạc (chung đỉnh): chỉ công danh phú quý. 
- Chiếc cần câu trên sông Đồng: Nghiêm Quang, lúc nhỏ là bạn Quang Vũ, sau này khi lên ngôi vua, Quang Vũ mời ông ra làm quan nhưng ông từ chối, về đi câu ở sông Đồng. Đời sau ca ngợi ông có câu: “Đồng giang nhất ti, phù Hán cửu đỉnh”, nghĩa là một sợi dây câu trên sông Đồng nâng đỡ được chín vạc nhà Hán. Đài câu của Nghiêm Quang ở dưới núi Phú Xuân, trên sông Đồng, huyện Đồng Lư, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.



 

Aug 19, 2013

Độc Đại tuệ ngữ lục hữu cảm kỳ nhị

Tác giả: Trần Hoảng 陳晃
讀大慧語錄有感其二
眼前無色耳無聲
一片心頭自打成
聲色不干唇舌外
任他剝報與都丁

Nhãn tiền vô sắc nhĩ vô thanh 
Nhất phiến tâm đầu tự đả thành 
Thanh sắc bất can thần thiệt ngoại 
Nhậm tha bác báo dữ đô đinh

Dịch nghĩa: 
Cảm xúc khi đọc "Đại tuệ ngữ lục" (kỳ 2)
Trước mắt không có màu sắc, bên tai không có âm thanh, 
Cái tâm của mình tự cho là có đấy thôi; 
Thanh và sắc không can dự tới, đã ở ngoài môi và lưỡi, 
Mặc cho chúng "bác" hay "báo", "đô" hay "đinh".

Dịch thơ: 
Mắt, tai nào có sắc cùng thanh, 
Chỉ một tâm kia tự đúc thành; 
Môi, lưỡi bỏ ngoài thanh với sắc, 
Mặc người “bác, báo” với “đô, đinh” 
                                   Phạm Tú Châu 

II 
Mắt không sắc, tai không thanh, 
Cái tâm tự nó đúc thành mà thôi; 
Sắc, thanh ngoài lưỡi, ngoài môi, 
“Đô, đinh”, “bác, báo” cũng thôi mặc người. 
                                                      Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
Bác, báo, đô, đinh: là tiếng tượng thanh, chưa rõ nghĩa, có thể hai chữ bắt đầu bằng B và Đ, người ta có thể nói Bác thành Báo, Đô thành Đinh.


Aug 16, 2013

Độc Đại Tuệ ngữ lục hữu cảm kỳ nhất

Tác giả: Trần Hoảng 陳晃
讀大慧語錄有感其一
打瓦鑽龜三十年
幾回汗出為參禪
一朝識破娘生面
鼻孔元來沒半邊

Đ ngoã toàn quy tam thp niên 
K hi hãn xut v tham thi
Nht triêu thc phá nương sinh di
T khng nguyên lai mt bán biên

Dịch nghĩa: 
Cm xúc khi đc "Đi tu ng lc" (k 1)
Ba mươi năm dùi rùa đập ngói 
Mấy lần toát mồ hôi vì tham cứu đạo Thiền; 
Một sớm bỗng thấy hết được khuôn mặt của mẹ, 
Thì ra khuôn mặt ấy chỉ có một nửa.

Dịch thơ: 
Đập ngói dùi rùa ba chục niên, 
Mồ hôi ướt đẫm bởi tham Thiền; 
Một mai nhìn thấu dung nhan mẹ, 
Mới biết khuôn trăng khuyết một bên. 
                                           Phạm Tú Châu 

II 
Dùi rùa, đập ngói bao năm, 
Mồ hôi ướt đẫm vì tham cứu Thiền; 
Thấy ra khuôn mặt Mẹ hiền, 
Mới hay mặt khuyết một bên, không đầy. 
                                                   Đỗ Quang Liên 


Chú thích: 
- Đả ngõa, toàn quy (đạp ngói, dùi rùa): Nhóm từ thường dùng trong Phật giáo đời Lý, Trần, có lẽ để chỉ khổ công của người học đạo, cũng có thể làm những việc vô ích. Ở đây, tác giả dùng với nghĩa thứ hai. 
- Nương sinh diện (khuôn mặt mẹ): theo quan niệm nhà Phật thì “người Mẹ” tức cái “Đạo” hay cái “Tâm” là cái nảy sinh ra thế giới hiện tượng. Cũng tương đương với thuật ngữ “Bản lai diện mục” tức là “Tâm Phật” của chính con người.


May 23, 2013

Đáp tăng vấn

Tác giả: Lê Thuần (Hiện Quang ?-1221) 黎純現光

答僧問
那似許由德
何知世幾春
無為居曠野
逍遙自在人


Ná tự Hứa Do đức 
Hà tri thế kỷ xuân 
Vô vi cư khoáng dã 
Tiêu dao tự tại nhân

Dịch nghĩa:
Trả lời một tăng đồ 
Sao cho giống đức Hứa Do, 
Biết đâu đời có mấy mùa xuân; 
Vô vi ở nơi đồng quê phóng khoáng, 
Làm con người tự tại tiêu dao.

Dịch thơ: 
Cốt giống đức Hứa Do, 
Mấy mùa xuân không biết; 
Vô vi nơi khoáng đạt, 
Tự tại sống tiêu dao. 
                            Đỗ Quang Liên 

II 
Cốt sao có đức Hứa Do, 
Mặc cho đời đã mấy mùa xuân trôi; 
Đồng quê khoáng đạt thảnh thơi, 
Vô vi là đức của người tiêu dao. 
                                   Phạm Tú Châu – Hoàng Lê


Chú thích: 
Lê Thuần người Thăng Long, đi tu ở núi Yên Tử, Đông Triều. Từ 11 tuổi làm đồ đệ Thiền sư Thường Chiếu, lớn lên ông theo học các Thiền sư Trí Thông và Pháp Giới, sau thành một nhân vật đặc sắc thế hệ thứ 14, dòng thiền Quan Bích. Vua Lý Huệ Tông nhiều lần cho đem lễ vật đến mời, nhưng ông đều tìm cách từ chối.
 
Hứa Do: ẩn sĩ đời vua Nghiêu. Nghiêu đem thiên hạ nhường cho Hứa Do, nhưng Hứa Do không nhận.

Chữ Vô vi của cụ Filippo Partesotti 

May 21, 2013

55. Hóa vận

Tác giả: Nguyễn Y Sơn (1121-1213) 阮依山

化運
眞身成萬象
萬象即真身
月殿榮丹桂
丹桂在一輪

Chân thân thành vạn tượng
Vạn tượng tức chân thân 
Nguyệt điện vinh đan quế 
Đan quế tại nhất luân

Dch nghĩa: 
Biến hoá và chuyển vần 
Chân thân biến hóa thành muôn vàn hin tượng*, 
Muôn vàn hin tượng cũng là chân thân. 
Cũng như cung trăng làm cho cây quế đ tươi tt, 
Nhưng cây quế đỏ vn trong cung trăng.

Dịch thơ: 
I
Chân thân thành vạn tướng, 
Vạn tướng cũng chân thân; 
Cung trăng tươi quế đỏ, 
Quế đỏ vẫn cung trăng. 
                        Đỗ Quang Liên

II
Một thực thân thành nghìn tướng sắc, 
Dẫu muôn nghìn cũng tức chân thân; 
Khác nào quế tốt muôn phần, 
Nghìn thu vẫn ở giữa vầng trăng trong. 
                                                    Phạm Tú Châu


Chú thích: 
Nguyễn Y Sơn không rõ tên thật, sinh năm Tân Sửu, niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ thứ hai, ông tu ở chùa Đại Tứ hương Đại Thông, quận Long Phúc, lập thành thế hệ thứ 19, dòng thiền Nam Phương.


*Chân thân là thân thể thực. Theo quan điểm nhà Phật, đó là cái thân trường tồn vĩnh viễn, bất sinh, bất diệt, tức là bản thể. Còn thân thể người ta và vạn vật chỉ là thân thể giả, tức là hiện tượng.



May 7, 2013

Thị Thái uý Tô Hiến Thành, Thái bảo Ngô Hòa Nghĩa

Tác giả: Lê Thước (Trí Thiền) 黎鑠智


示太尉蘇憲誠太保吳和義
旣懷出素養胸中
聞說微言意允從
貪慾黜除千里外
希夷之理日包容

Ký hoài xuất tố dưỡng hung trung 
Văn thuyết vi ngôn ý doãn tòng 
Tham dục truất trừ thiên lý ngoại 
Hy di chi lý nhật bao dung

Dịch nghĩa: 

Bảo thái uý Tô Hiến Thành và thái bảo Ngô Hoà Nghĩa 
Đã ấp ủ trong lòng ý muốn thoát ra ngoài cõi tục, 
Nên khi nghe lời huyền diệu là chân thành tin theo; 
Hãy trừ bỏ và đuổi sự tham muốn ra ngoài ngàn dặm, 
Hàng ngày chất chứa trong lòng cái lẽ nhiệm mầu.

Dịch thơ: 


I
Như muốn lìa xa cõi bụi hồng, 
Vẳng nghe lời diệu, hãy vui lòng; 
Đuổi ngoài nghìn dặm niềm tham muốn, 
Để lẽ huyền vi chứa ở trong. 
                                                    Ngô Tất Tố

II

Tin nghe theo lẽ diệu huyền, 
Bởi lòng đã quyết lánh miền trần ai; 
Ý tham gạt bỏ dặm ngoài, 
Nhiệm màu lẽ ấy, ngày ngày chắt chiu. 
                                                         Phạm Tú Châu 
 

Chú thích:
Lê Thước người Châu Phong, giữ chức Cung hậu thư gia. Cả nhà đều làm quan to triều Lý. Ông theo học sư Giới Không, tu ở núi Từ Sơn, đứng đầu thế hệ 16, dòng thiền Nam Phương. 
Hai vị Thái Úy, Thái Bảo từng xem mình là học trò của ông. 
Hy di: chỉ cái “tâm” bản thể rất vi diệu.


Apr 28, 2013

Quy thanh chướng

Tác giả Phan Trường Nguyên (1110-1165) 潘長原


歸青嶂
猿猴抱子歸青嶂
自古聖賢沒可量
春來鶯囀百花深
秋至菊開沒模樣

Viên hầu bão tử quy thanh chướng
Tự cổ thánh hiền một khả lượng
Xuân lai oanh chuyển bách hoa thâm
Thu chí cúc khai một mô dạng

Dịch nghĩa: 
Về núi xanh 
Cũng như loài vượn khỉ ôm con lẩn vào núi biếc,
Ý chí của thánh hiền xưa nay sâu kín khó lường.
Mùa xuân đến, chim oanh hót, trăm hoa đua nhau khoe thắm, 
Nhưng đến khi thu về, hoa cúc nở thì không một loài hoa nào còn.

Dịch thơ: 
Bậc thánh sâu xa khó lượng tình, 
Đành như khỉ, vượn ẩn ngàn xanh; 
Xuân sang, oanh hót, hoa đua thắm, 
Thu tới đìu hiu, cúc một cành. 
                                          Phạm Tú Châu 

II 
Ôm con, vượn ẩn non ngàn, 
Thánh hiền đạo lý khó lường xưa nay; 
Sang xuân, hoa thắm, oanh bay, 
Tới thu hoa héo, cúc nay một cành. 
                                                      Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
Trường Nguyên gốc nam Trung Quốc, người thiểu số, sang ở nước ta, tại Trường Nguyên, huyện Tiên Du. Ông tu ở núi Từ Sơn, thuộc thế hệ thứ mười, dòng thiền Quan Bích. Ông làm bài thơ này ý nói không chịu vào triều theo lời mời của vua Lý Anh Tông (1137-1175. 
Hoa cúc được coi là có tính kiên trinh, chịu được giá rét; ý nói không bị lợi danh ràng buộc.


Mar 16, 2013

Nhật nguyệt

Tác giả: Thiền Lão 禪老

日月
但知今日月
識舊春秋

翠竹花非外
白雲明月露全

Đãn tri kim nhật nguyệt 
Thùy thức cựu xuân thu 

Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh 
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân.

Dịch nghĩa: 
Ngày tháng 
Chỉ biết ngày tháng đang diễn ra trước mắt, 
Nào ai hay những mùa xuân, mùa thu đã trôi qua. 
Trúc biếc, hoa vàng chẳng phải là cảnh bên ngoài, 
Mây trắng, trăng trong lộ rõ cái “Chân” toàn vẹn.

Dịch thơ: 
Ngày tháng
I. 
Những biết tháng ngày nay, 
Ai biết xuân thu trước. 
Trúc biếc, hoa vàng đâu ngoại cảnh, 
Trăng thanh mây trắng lộ toàn chân.
                                             Đỗ Quang Liên
II. 
Biết thời gian của hôm nay, 
Xuân xưa, thu cũ ai hay biết gì. 
Ngoại cảnh đâu có phải: Hoa vàng với trúc xanh; 
Lộ vẻ chân toàn vẹn: Ở mây trắng, trăng thanh. 
                                                                Phạm Tú Châu.


Chú thích: 
Thiền Lão là mỹ hiệu nhà sư thuộc thế hệ thứ sáu dòng thiền Quan Bích, theo học thiền sư Đa Bảo ở chùa Kiến Sơ, sau tu ở núi Từ Sơn (có lẽ thuộc châu Vũ Ninh, thuộc lộ Bắc Giang). Vua Lý Thái Tông thường đến chùa cùng đàm đạo, định đón về làm cố vấn, nhưng chưa kịp mời, ông đã mất.

Mar 6, 2013

Nguyên Hỏa

Tác giả: Khuông Việt 匡越
元火
木中元有火
元火復還生
若謂木無火
鑽燧何由萌 

Nguyên hỏa (1) 
Mộc trung nguyên hữu hoả, 
Nguyên hoả phục hoàn sinh; 
Nhược vị mộc vô hoả, 
Toàn toại hà do manh? 

Dịch nghĩa:
Nguyên hỏa 
Trong cây vốn sẵn có lửa, 
Yếu tố lửa đầu tiên vẫn tái sinh không ngừng; 
Nếu nói rằng cây không có lửa, 
Thì khi dùi cây lấy lửa, lửa từ đâu phát ra? 

Nguyên hỏa 
I 
Lửa sẵn có trong cây, 
Vơi đi, dốc lại đầy; 
Ví cây không sẵn lửa, 
t lửa, sao bùng ngay? 
                Huệ Chi – Phạm Tú Châu 

II 
Trong cây, lửa sẵn có rồi, 
Lửa trong cây cứ hồ vơi lại đầy; 
Bảo: lửa không sẵn trong cây, 
Sao dùi lấy lửa bùng ngay sáng lòa? 
                                                Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
1. Đây là bốn câu kệ nhà thơ ứng khẩu trước lúc mất. 
Tác giả theo triết lý ngũ hành tương sinh (mộc sinh hỏa), tức là năm yếu tố vật chất sinh ra nhau. Cũng có ý kiến cho rằng lửa ở đây là tượng trưng cho bản thể của vũ trụ, trong bất kỳ hiện tượng vật chất nào cũng có nó.