Showing posts with label Trần Quang Triều. Show all posts
Showing posts with label Trần Quang Triều. Show all posts

Nov 6, 2013

Đề Liêu Nguyên Long tống hoạ cảnh phiến

Tác giả: Trần Quang Triều 陳光朝
題寥元龍送畫景扇 
南國那堪入畫圖
新安池館長菰蒲
年年領攬閑風月
竹外一聲啼鷓鴣

Nam quốc na kham nhập hoạ đồ 
Tân an trì quán trưởng cô bồ 
Niên niên lãnh lãm nhàn phong nguyệt 
Trúc ngoại nhất thanh đề giá cô

Dịch nghĩa: 
Đề chiếc quạt vẽ phong cảnh do Lê Nguyên Long tặng
Phong cảnh nước Nam khó có thể đưa vào tranh vẽ, 
Ao, quán Tân An mọc tốt niềng niễng với cói; 
Hàng năm thâu lượm cảnh trăng gió thảnh thơi, 
Ngoài rặng trúc, một tiếng chim đa đa kêu.

Dịch thơ:
I
Cảnh Nam hồ dễ vẽ nên tranh, 
Ao, quán Tân An niễng, cói xanh; 
Một tiếng đa đa ngoài rặng trúc,
Năm năm thâu lượm gió trăng thanh. 
                                            Phạm Tú Châu 

II
Cảnh Nam khó vẽ nên tranh, 
Tân An ao, quán cói xanh mướt bờ; 
Rặng tre một tiếng giá cô, 
Thảnh thơi trăng gió tha hồ tháng năm. 
                                                Đỗ Quang Liên
 



Nov 5, 2013

160. Tràng An hoài cổ

Tác giả: Trần Quang Triều 陳光朝
長安懷古
河岳終存故國非
數行陵柏背斜暉
舊時王氣埋秋草
暮雨蕭蕭野蝶飛

Hà nhạc chung tồn cố quốc phi 
Sổ hàng lăng bách bối tà huy 
Cựu thời vương khí mai thu thảo 
Mộ vũ tiêu tiêu dã điệp phi

Dịch nghĩa: 
Trường An hoài cổ 
Sông núi rốt cuộc vẫn còn mà nước cũ đã đổi khác, 
Mấy hàng bách trồng trên gò đứng phơi lưng dưới nắng chiều; 
Khí đế vương triều xưa chôn vùi dưới cỏ mùa thu, 
Mưa chiều hiu hắt bướm nội bay.

Dịch thơ: 
Núi sông còn đó, nước xưa đâu, 
Nắng xế gò cao, bách dãi dầu; 
Vương khí một thời chôn dưới cỏ, 
Bướm đồng chao cánh dưới mưa mau. 
                                                        Huệ Chi 

II 
Núi sông đó, triều cũ đâu? 
Lưng gò, hàng bách dãi dầu nắng phơi; 
Cỏ trùm vương khí một thời, 
Bướm đồng bay nhởn, hắt hiu mưa chiều. 
                                                       Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
Quang Triều, còn có tên là Nguyên Đạo và Nguyên Thụ, hiệu Cúc Đường chủ nhân và Võ Sơn Ông, nguyên quán Tức Mặc, Thiên Trường, Nam Định; là con trai cả Trần Quốc Tảng, cháu nội Trần Quốc Tuấn, anh vợ vua Trần Anh Tông. 
Mới 14 tuổi, ông đã được phong Văn Huệ Vương. Ông văn võ kiêm toàn, từng cầm quân đánh dẹp Thích Na. 
Sau khi vợ ông là công chúa Thượng Trân mất, ông muốn cáo quan, cuối cùng về ở ẩn am Bích Động, gần chùa Quỳnh Lâm, nay thuộc Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, lập ra thi xã Bích Động. Năm 1324, vua Trần Minh Tông triệu ra, giao chức Nhập nội kiểm hiệu tư đồ, nhưng không bao lâu thì mất. Các bạn ông đã biên tập thơ ông thành Cúc Đường di cảo, được Phan Huy Chú đánh giá là thanh thoát, đáng ưa.


Nov 4, 2013

Điếu tẩu

Tác giả: Trần Quang Triều (1286-1325) 陳光朝
釣叟
遯浪吹潮上碧灘
櫓聲移入碧雲寒
幾回薄餌懸鐘鼎
那重桐江一釣竿

Độn lãng xuy triều thướng bích than 
Lỗ thanh di nhập bích vân hàn 
Kỷ hồi bạc nhị huyền chung đỉnh 
Na trọng đồng giang nhất điếu can

Dịch nghĩa: 
Ông già câu cá 
Sóng cá dồn đẩy nước triều lên dòng thác biếc, 
Tiếng mái chèo đưa hơi lạnh vào mây xanh; 
Đã bao lần coi nhẹ miếng mồi treo chuông vạc, 
Mồi ấy đâu có nặng bằng chiếc cần câu bên sông Đồng.

Dịch thơ: 
I
Thác biếc triều dâng sóng cá heo, 
Mây lồng hơi lạnh tiếng bơi chèo; 
Đồng Giang cần trúc từng xem nặng, 
Hơn cả mồi câu vạc đỉnh treo. 
                                   Phạm Tú Châu 

II 
Sóng dồn triều ngược bãi cao,   
Tiếng chèo khỏa khí lạnh vào mây xanh;   
Bao lần cởi bả lợi danh, 
Chi bằng thanh thản đầu ghềnh buông câu. 
                                                            Đỗ Quang Liên

Chú thích: 
- Cá đồn tức cá heo, người xưa cho rằng khi nào cá này nổi lên là biển có gió to sóng giữ. 
- Chuông vạc (chung đỉnh): chỉ công danh phú quý. 
- Chiếc cần câu trên sông Đồng: Nghiêm Quang, lúc nhỏ là bạn Quang Vũ, sau này khi lên ngôi vua, Quang Vũ mời ông ra làm quan nhưng ông từ chối, về đi câu ở sông Đồng. Đời sau ca ngợi ông có câu: “Đồng giang nhất ti, phù Hán cửu đỉnh”, nghĩa là một sợi dây câu trên sông Đồng nâng đỡ được chín vạc nhà Hán. Đài câu của Nghiêm Quang ở dưới núi Phú Xuân, trên sông Đồng, huyện Đồng Lư, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.