Showing posts with label Đỗ Văn Hỷ. Show all posts
Showing posts with label Đỗ Văn Hỷ. Show all posts

Nov 13, 2013

Ngọ thụy

Tác giả: Huyền Quang 玄光

午睡
雨過溪山淨
楓林一夢涼
反光塵世界
開眼醉茫茫

Vũ quá khê sơn tịnh 
Phong lâm nhất mộng lương 
Phản quang trần thế giới 
Khai nhãn tuý mang mang

Dịch nghĩa: 
Ngủ trưa 
Sau mưa, khe và núi đều sạch làu, 
Một giấc mộng mát mẻ trong rừng phong; 
Ngoảnh nhìn lại cõi đời bụi bặm, 
Mở mắt, mà dường như say choáng váng.

Dịch thơ: 
I
Mưa tạnh núi khe sạch, 
Rừng phong một giấc mơ; 
Ngoảnh nhìn đời bụi bặm, 
Mở mắt dường say sưa. 
                                Đỗ Văn Hỷ 

II
Núi, khe tĩnh sạch sau mưa, 
Rừng phong ngon giấc cơn mơ mát lành; 
Cõi trần nhìn lại chung quanh, 
Rõ ràng mở mắt, say mèm bâng khuâng…
                                                        Đỗ Quang Liên 

III

LA SIESTE
Paisibles après la pluie sont ravines et monts.
Dans la forêt d'érables, après un sommeil profond,
On jette un coup d'oeil vers le monde terrestre:
Tout s'estompe autour, tout comme dans l'ivresse.
Traduit par Phan Hoàng Mạnh

 

Nov 9, 2013

Tán Tuệ Trung thượng sĩ

Tác giả: Đồng Kiên Cương 同堅剛
贊慧忠上士
純鋼打就
生鐵鑄成
尺天寸地
月白風清

Á 
Thuần cương đả tựu 
Sinh thiết trú thành 
Xích thiên thốn địa 
Nguyệt bạch phong thanh
Đốt

Dịch nghĩa:  
Ca ngợi Tuệ Trung thượng sĩ 
Ôi!  
Thép ròng rèn được,  
Gang sống đúc nên;  
Thước trời gang đất,  
Trăng sáng gió trong.  
Quát!

Dịch thơ: 
Ôi! Thép ròng rèn được, 
Gang sống đúc thành.  
Thước trời tấc đất,  
Gió mát trăng thanh.  
Ha! 
                             Đỗ Văn Hỷ 

II 
Tài thay! rèn được thép ròng, 
Giỏi thay sắt sống gia công đúc thành; 
Thước trời tấc đất phân minh, 
A ha! gió mát trăng thanh tùy lòng. 
                                         Đỗ Quang Liên 





Oct 16, 2013

Sơn phòng mạn hứng kỳ 2

Tác giả: Trần Nhân Tông 陳仁宗
山房漫興其二
是非念逐朝花落
名利心隨夜雨寒
花盡雨晴山寂寂
一聲啼鳥又春殘

Thị phi niệm trục triêu hoa lạc
Danh lợi tâm tuỳ dạ vũ hàn 
Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch 
Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn

Dịch nghĩa: 
Mạn hứng ở Sơn Phòng (bài 2) 
Niềm thị phi rụng theo hoa buổi sớm, 
Lòng danh lợi lạnh theo trận mưa đêm; 
Hoa rụng hết, mưa đã tạnh, núi non tịch mịch, 
Một tiếng chim kêu, lại cảnh xuân tàn.

Dịch thơ:
Phải, trái rụng theo hoa buổi sớm, 
Lợi, danh lạnh với trận mưa đêm; 
Hoa tàn, mưa tạnh, non im lặng, 
Xuân cõi còn dư một tiếng chim. 
                                        Đỗ Văn Hỷ 

II 
Đúng, sai: hoa sớm rụng rời, 
Lợi, danh: nguội lạnh bầu trời mưa đêm; 
Hết hoa, mưa tạnh, núi êm, 
Đâu đây vẳng một tiếng chim – xuân tàn. 
                                                       Đỗ Quang Liên

Improvisation à Sơn Phòng (2) 
L’idée de la raison et du tort poursuit les fleurs matinales tombant, 
Le désir de l’honneur et de la richesse suit la pluie nocturne refroidissant, 
Les fleurs sont tombées, la pluie a cessé, la montagne devient silencieuse, 
Un cri d’oiseau announce que la printemps prend fin. 
Traduit par Đỗ Quang Liên 





Jul 31, 2013

Chiếu thân

Tác giả: Trần Tung 陳嵩
照身
焦頭爛額被金袍
五七年間是廠糟
縱也超群兼拔萃
一回放下一回高

Tiêu đầu lạn ngạch bị kim bào 
Ngũ thất niên gian thị xưởng tao 
Túng dã siêu quần kiêm bạt tụy 
Nhất hồi phóng hạ nhất hồi cao

Dịch nghĩa: 
Soi mình 
Cháy đầu bỏng trán, thì được mặc áo bào vàng, 
Còn mình năm bảy năm nay vẫn ở nơi xay giã; 
Nếu là bậc siêu quần xuất chúng, 
Thì cứ mỗi lần hạ xuống lại một lần lên cao.

Dịch thơ: 
Cháy đầu bỏng trán mặc kim bào, 
Xay giã bao năm ai biết nào; 
Nếu thực siêu quần và xuất chúng, 
Mỗi lần hạ xuống một lần cao. 
                                         Đỗ Văn Hỷ 

II 
Cháy đầu bỏng trán được sang, 
Bao năm xay giã tu hành hơn chi; 
Đã là xuất chúng thế thì, 
Mỗi kỳ hạ xuống, một kỳ lên cao. 
                                       Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
- Cháy đầu bỏng trán: Hoắc Quang truyện ghi: Người góp ý sửa ống khói, rời củi không nghe. Khi bếp cháy, những người chữa cháy được mời ăn tiệc, người góp ý trước thì không đả động tới. 
- Xưởng tao: (đúng phải là Tao xưởng) nơi xay thóc giã gạo của nhà chùa, ý nói tu hành.




Jul 26, 2013

95. Ngẫu tác

Tác giả: Trần Tung 陳嵩 
偶作
夢起還須仔細看
投機觸目莫瞞肝
縱饒五眼通明在
未免呼鐘壅作看


Mộng khởi hoàn tu tử tế khan 
Đầu cơ xúc mục mạc man can 
Túng nhiêu ngũ nhãn thông minh tại 
Vị miễn hô chung úng tác khan

Dịch nghĩa: 
Chợt hứng làm thơ 
Tan giấc mơ trở dậy cần xem lại cẩn thận, 
Phải hợp thời đúng lúc chứ đừng lờ mờ; 
Dù rằng năm mắt sáng suốt đấy, 
Nhưng chưa khỏi gọi cái chuông là vò đựng rượu.

Dịch thơ: 
Mơ dậy còn nên xét rõ rành, 
Hợp thời đúng lúc cốt tinh anh; 
Mặc cho năm mắt thông minh đấy, 
Không khỏi nhìn chuông hoá hũ sành. 
                                                Đỗ Văn Hỷ 

II 
Tan mơ cần xét rõ rành, 
Hợp thời đúng lúc chớ đành lơ mơ; 
Thông minh năm mắt có thừa, 
Coi chừng chuông bảo là vò cũng nên. 
                                             Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
Năm mắt (The five kinds of vision): chỉ năm cấp độ thị giác của loài người:


1. Nhục nhãn (Human eye): mắt thịt của chúng sinh; 
2. Thiên nhãn (Deva eye): mắt người cõi trời; 
3. Tuệ nhãn (The eye of Wisdom): mắt những người đã tu tới bậc Thanh Văn, Duyên Giác; 
4. Pháp nhãn (The eye of Dharma): mắt người đã tu tới Bồ Tát; 
5. Phật nhãn (Buddha Vision): mắt người đã tu thành Phật.




Jul 25, 2013

Đề tinh xá

Tác giả: Trần Tung 陳嵩

題精舍
踏著關頭未剎那
縱橫放筆札伽陀
年年筆嘴無端甚
三界如來不奈何


Đạp trước quan đầu vị sát na 
Tung hoành phóng bút trát già đà 
Niên niên bút chuỷ vô đoan thậm 
Tam giới Như Lai bất nại hà

Dịch nghĩa: 
Đề tinh xá 
Dẫm chân tới đầu cổng chưa được giây lát, 
Buông lời dọc ngang viết nên bài kệ; 
Năm gần đây ngòi bút bỗng trở nên hờ hững, 
Như Lai ở ba giới cũng chả biết làm thế nào.

Dịch thơ: 
Bước tới cổng chùa chửa phút giây, 
Dọc ngang lời kệ viết xong ngay; 
Gần đây ngòi bút thờ ơ quá, 
Tam giới Như Lai cũng khó hay. 
                                         Đỗ Văn Hỷ 

II 
Tới cổng chưa được phút giây, 
Buông lời ngang dọc viết bài kệ ngay; 
Hững hờ ngòi bút gần đây, 
Như Lai tam giới chẳng hay thế nào? 
                                             Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
Tinh xá, cũng như Phật xá tức là nhà chùa. 
Giây lát: dịch chữ sát-na (tiếng Phạn là Ksna) nghĩa là một khoảng thời gian thoáng qua mau lẹ vô cùng. 
Như Lai ở ba giới: Như Lai tức là Phật Thế Tôn, một trong 10 danh hiệu của Phật. 
Ba giới: ba cõi, một thuật ngữ của đạo Phật, chỉ nơi ở của chúng sinh chưa hoàn toàn siêu thoát. Đó là 
- Dục giới: thế giới của chúng sinh còn phải ăn uống và nhiều ham muốn; 
- Sắc giới: thế giới của các tiên, không còn ham muốn, ăn uống nhưng còn hình thể; 
- Vô sắc giới: thế giới các tiên không còn hình thể, chỉ còn tâm thức.


Jul 24, 2013

Phóng ngưu

Tác giả: Trần Tung 陳嵩


放牛
偶向溈山得弟鄰
荒蕪甘作牧牛人
國王德澤寬如海
隨分些些水草春

Ngẫu hướng Quy Sơn đắc đệ lân 
Hoang vu cam tác mục ngưu nhân 
Quốc vương đức trạch khoan như hải 
Tuỳ phận ta ta thuỷ thảo xuân

Dịch nghĩa: 
Thả trâu 
Tình cờ hướng về làng xóm của Quy Sơn mà tìm được mái nhà, 
Cam làm người chăn trâu trong chốn hoang vu; 
Ơn đức quốc vương rộng như bể, 
Nhưng xin cứ tuỳ phận với chút ít cỏ nước mùa xuân.

Dịch thơ: 
I
Quy Sơn xóm nọ bỗng quay sang, 
Cam nhận chăn trâu chốn nội hoang; 
Ơn đức quốc vương như biển cả, 
Riêng vui cỏ suối với hoa ngàn. 
                                        Đỗ Văn Hỷ 

II
Quay về làng xóm Quy Sơn, 
Chăn trâu trong chốn đồng hoang tháng ngày; 
Quốc vương ân đức cao dày, 
Xin vui với nước, với cây ít nhiều.
                                                          Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
Chăn trâu: sách Truyền đăng lục chép Hòa thượng Đại An nói rằng: “An này ở Quy Sơn đã 30 năm, một hôm thấy con trâu thiến chạy vào vào bụi cỏ, dắt nó về nuôi, hễ nó ăn lúa thì ta quất, lâu dần nó chịu nghe ta. Đến nay thành con trâu trắng toát như sương, thường ở ngay trước mặt, đuổi cũng không đi”. Tác giả mượn điển này để nói tâm sự của mình.