Showing posts with label Trần Tung - Tuệ Trung thượng sĩ. Show all posts
Showing posts with label Trần Tung - Tuệ Trung thượng sĩ. Show all posts

Aug 7, 2013

Giang hồ tự thích

Tác giả: Tuệ Trung thượng sĩ 慧中上士
江湖自適
小艇長江蕩漾浮
悠揚棹撥過灘頭
一聲何處新來雁
陟覺秋風徧十洲 

Tiểu đĩnh trường giang đãng dạng phù 
Du dương trạo bát quá than đầu 
Nhất thanh hà xứ tân lai nhạn 
Trắc giác thu phong biến thập châu

Dịch nghĩa:  
Vui thú sông hồ  
Thuyền nhỏ lênh đênh trên dòng sông dài, 
Mái chèo nhịp nhàng lướt qua đầu ghềnh; 
Từ đâu vẳng lại một tiếng nhạn mới, 
Bất giác thấy gió thu thổi khắp mười cõi.


Dịch thơ: 
I 
Sông dài, thuyền nhỏ nổi lênh đênh, 
Cất mái chèo qua đoạn thác ghềnh; 
Một tiếng nhạn trời đâu vẳng đến, 
Gió thu như đã dậy mông mênh. 
                               Đào Phương Bình 

II 
Sông dài thuyền nhỏ lênh đênh, 
Mái chèo khoan lướt đầu ghềnh thảnh thơi; 
Vẳng đâu tiếng nhạn bên trời, 
Gió thu man mác khắp mười cõi tiên. 
                                           Đỗ Quang Liên 


Chú thích: 
Mười cõi tiên (thập châu): theo Thập châu ký của Đông Phương Sóc đời Hán, là 10 xứ sở của thần tiên.





Aug 6, 2013

Thoát thế

Tác giả: Trần Tung 陳嵩
脫世
翻身一擲出焚籠
萬事都盧入眼空
三界茫茫心了了
月華西沒日升東

Phiên thân nhất trịch xuất phần lung 
Vạn sự đô lô nhập nhãn không 
Tam giới mang mang tâm liễu liễu 
Nguyệt hoa tây một nhật thăng đông

Dịch nghĩa: 
Thoát đời 
Vươn mình một cái vượt ra khỏi lồng 
Muôn việc đều như trò chơi, vào mắt cũng thành hư không; 
Tam giới mênh mông cõi lòng sáng rõ, 
Bóng trăng chìm xuống phương tây, mặt trời mọc ở phương đông.

Dịch thơ: 
I
Xoay mình một ném vượt ra lồng, 
Muôn sự đều không, nhập mắt không; 
Ba cõi thênh thang, lòng sáng rõ, 
Trăng tây vừa lặn, nhú vầng đông.
                                  Đào Phương Bình 

II 
Vươn  mình lên vượt khỏi lồng, 
Mọi trò đều thảy hư không nhãn tiền; 
Sáng lòng ba cõi mênh mông, 
Trời tây trăng lặn, vầng đông nhô dần. 
                                               Đỗ Quang Liên 


Chú thích: 
Đô lô: trò đời, thời Hán có trò chơi gọi là “Đô lô ba du giác chi”, chú giải Đô lô là tên nước, người ở đấy thân nhẹ, giỏi leo trèo. Tác giả có lẽ muốn nói cái hư huyễn như một trò chơi của tạo vật.



Aug 5, 2013

100. Thị tu Tây Phương bối

Tác giả: Trần Tung 陳嵩

示修西方輩
心內彌陀紫磨軀
東西南北法身周
長空只見孤輪月
剎海澄澄夜漫秋

Tâm nội Di Đà tử ma khu 
Đông tây nam bắc pháp thân chu 
Trường không chỉ kiến cô luân nguyệt 
Sát hải trừng trừng dạ mạn thu

Dịch nghĩa: 
Gợi bảo những người tu Tây Phương 
Cái thân vàng cao quý nhất của Phật Di Đà ở ngay trong lòng, 
Pháp thân chan hoà khắp đông tây nam bắc; 
Bầu trời bát ngát chỉ nhìn thấy vầng trăng cô đơn, 
Bể phật trong suốt, đêm chuyển dài vào thu.

Dịch thơ: 
I
Thân báu Di Đà ẩn đáy lòng, 
Bốn phương, thân pháp toả mênh mông; 
Bầu trời chỉ thấy vầng trăng quạnh, 
Đêm lắng vào thu, biển Phật trong. 
                                                 Huệ Chi 

II 
Di Đà thân báu trong lòng, 
Pháp thân tỏa khắp tây đông bốn trời; 
Tầng không một mảnh trăng côi, 
Trong veo biển Phật, đêm dài vào thu. 
                                                     Đỗ Quang Liên 


Chú thích: 
- Di Đà: là một trong mười sáu người con của của Phật Đại Thông Trí Thắng (大通智勝) và là anh em với Phật Thích Ca, là vị Phật chủ trì thế giới Tây phương cực lạc. Phật A Di Đà có hào quang sáng suốt chiếu khắp mọi phương (Vô lượng quang minh) và có tuổi thọ dài dặc (Vô lượng thọ). Hoa sen là biểu tượng công đức ngài. 
- Pháp thân: là Chân thân, là cái đạo thể, cái thể của Pháp tính. Chân thân của Phật có đủ 4 đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Đối lập với Phàm thân sắc thân của chúng sinh.


Aug 1, 2013

Tự tại

Tác giả: Trần Tung 陳嵩
自在
藤鼠無端漸漸侵
歸來終老寄山林
柴門茅屋居瀟灑
無是無非自在心

Đằng thử vô đoan tiệm tiệm xâm 
Quy lai chung lão ký sơn lâm 
Sài môn mao ốc cư tiêu sái 
Vô thị vô phi tự tại tâm

Dịch nghĩa: 
Tự tại 
Dây leo và loài chuột không dưng dần dần lấn tới, 
Trở về gửi thân nơi núi rừng đến trọn tuổi già; 
Cửa liếp nhà tranh, ăn ở thảnh thơi, 
Không "thị" không "phi", lòng ung dung tự tại.

Dịch thơ: 
I 
Nanh chuột giây bìm cứ lấn xâm, 
Về thôi, già gửi chốn sơn lâm; 
Nhà tranh, cửa liếp phong quang chán, 
Phải trái đều không, tự tại tâm. 
                                     Đào Phương Bình 

II 
Dây leo, loài chuột lấn dần, 
Về nơi rừng núi gửi thân cuối đời; 
Nhà tranh, cửa liếp thảnh thơi, 
Thị phi bỏ mặc, lòng người ung dung. 
                                        Đỗ Quang Liên 


Chú thích: 
Dây leo, loài chuột: theo Danh nghĩa tập: có người tránh hai con voi say (chỉ sự sống chết), bèn bám dây (chỉ mệnh căn), tụt xuống giếng (chỉ sự vô thường), thì thấy hai con chuột 1 trắng, 1 đen (chỉ ngày tháng) gặm dây gần đứt. Bên cạnh có 4 con rắn (chỉ đất, nước, gió, lửa), phía dưới có 3 con rồng (chỉ tham, sân, si). Người đó ngẩng lên thì voi đã tới giếng, đang lo sợ, bỗng thấy con ong bay qua, nhỏ một giọt mật (chỉ ngũ dục) vào mồm, anh ta mải nuốt mật, quên cả sợ. Tác giả muốn nói ngày tháng làm đời người ta chóng già.



Jul 31, 2013

Chiếu thân

Tác giả: Trần Tung 陳嵩
照身
焦頭爛額被金袍
五七年間是廠糟
縱也超群兼拔萃
一回放下一回高

Tiêu đầu lạn ngạch bị kim bào 
Ngũ thất niên gian thị xưởng tao 
Túng dã siêu quần kiêm bạt tụy 
Nhất hồi phóng hạ nhất hồi cao

Dịch nghĩa: 
Soi mình 
Cháy đầu bỏng trán, thì được mặc áo bào vàng, 
Còn mình năm bảy năm nay vẫn ở nơi xay giã; 
Nếu là bậc siêu quần xuất chúng, 
Thì cứ mỗi lần hạ xuống lại một lần lên cao.

Dịch thơ: 
I 
Cháy đầu bỏng trán mặc kim bào, 
Xay giã bao năm ai biết nào; 
Nếu thực siêu quần và xuất chúng, 
Mỗi lần hạ xuống một lần cao. 
                                         Đỗ Văn Hỷ 

II 
Cháy đầu bỏng trán được sang, 
Bao năm xay giã tu hành hơn chi; 
Đã là xuất chúng thế thì, 
Mỗi kỳ hạ xuống, một kỳ lên cao. 
                                       Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
- Cháy đầu bỏng trán: Hoắc Quang truyện ghi: Người góp ý sửa ống khói, rời củi không nghe. Khi bếp cháy, những người chữa cháy được mời ăn tiệc, người góp ý trước thì không đả động tới. 
- Xưởng tao: (đúng phải là Tao xưởng) nơi xay thóc giã gạo của nhà chùa, ý nói tu hành.




Jul 26, 2013

95. Ngẫu tác

Tác giả: Trần Tung 陳嵩 
偶作
夢起還須仔細看
投機觸目莫瞞肝
縱饒五眼通明在
未免呼鐘壅作看


Mộng khởi hoàn tu tử tế khan 
Đầu cơ xúc mục mạc man can 
Túng nhiêu ngũ nhãn thông minh tại 
Vị miễn hô chung úng tác khan

Dịch nghĩa: 
Chợt hứng làm thơ 
Tan giấc mơ trở dậy cần xem lại cẩn thận, 
Phải hợp thời đúng lúc chứ đừng lờ mờ; 
Dù rằng năm mắt sáng suốt đấy, 
Nhưng chưa khỏi gọi cái chuông là vò đựng rượu.

Dịch thơ: 
I 
Mơ dậy còn nên xét rõ rành, 
Hợp thời đúng lúc cốt tinh anh; 
Mặc cho năm mắt thông minh đấy, 
Không khỏi nhìn chuông hoá hũ sành. 
                                                Đỗ Văn Hỷ 

II 
Tan mơ cần xét rõ rành, 
Hợp thời đúng lúc chớ đành lơ mơ; 
Thông minh năm mắt có thừa, 
Coi chừng chuông bảo là vò cũng nên. 
                                             Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
Năm mắt (The five kinds of vision): chỉ năm cấp độ thị giác của loài người:


1. Nhục nhãn (Human eye): mắt thịt của chúng sinh; 
2. Thiên nhãn (Deva eye): mắt người cõi trời; 
3. Tuệ nhãn (The eye of Wisdom): mắt những người đã tu tới bậc Thanh Văn, Duyên Giác; 
4. Pháp nhãn (The eye of Dharma): mắt người đã tu tới Bồ Tát; 
5. Phật nhãn (Buddha Vision): mắt người đã tu thành Phật.




Jul 25, 2013

Đề tinh xá

Tác giả: Trần Tung 陳嵩

題精舍
踏著關頭未剎那
縱橫放筆札伽陀
年年筆嘴無端甚
三界如來不奈何


Đạp trước quan đầu vị sát na 
Tung hoành phóng bút trát già đà 
Niên niên bút chuỷ vô đoan thậm 
Tam giới Như Lai bất nại hà

Dịch nghĩa: 
Đề tinh xá 
Dẫm chân tới đầu cổng chưa được giây lát, 
Buông lời dọc ngang viết nên bài kệ; 
Năm gần đây ngòi bút bỗng trở nên hờ hững, 
Như Lai ở ba giới cũng chả biết làm thế nào.

Dịch thơ: 
I 
Bước tới cổng chùa chửa phút giây, 
Dọc ngang lời kệ viết xong ngay; 
Gần đây ngòi bút thờ ơ quá, 
Tam giới Như Lai cũng khó hay. 
                                         Đỗ Văn Hỷ 

II 
Tới cổng chưa được phút giây, 
Buông lời ngang dọc viết bài kệ ngay; 
Hững hờ ngòi bút gần đây, 
Như Lai tam giới chẳng hay thế nào? 
                                             Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
Tinh xá, cũng như Phật xá tức là nhà chùa. 
Giây lát: dịch chữ sát-na (tiếng Phạn là Ksna) nghĩa là một khoảng thời gian thoáng qua mau lẹ vô cùng. 
Như Lai ở ba giới: Như Lai tức là Phật Thế Tôn, một trong 10 danh hiệu của Phật. 
Ba giới: ba cõi, một thuật ngữ của đạo Phật, chỉ nơi ở của chúng sinh chưa hoàn toàn siêu thoát. Đó là 
- Dục giới: thế giới của chúng sinh còn phải ăn uống và nhiều ham muốn; 
- Sắc giới: thế giới của các tiên, không còn ham muốn, ăn uống nhưng còn hình thể; 
- Vô sắc giới: thế giới các tiên không còn hình thể, chỉ còn tâm thức.


Jul 24, 2013

Phóng ngưu

Tác giả: Trần Tung 陳嵩


放牛
偶向溈山得弟鄰
荒蕪甘作牧牛人
國王德澤寬如海
隨分些些水草春

Ngẫu hướng Quy Sơn đắc đệ lân 
Hoang vu cam tác mục ngưu nhân 
Quốc vương đức trạch khoan như hải 
Tuỳ phận ta ta thuỷ thảo xuân

Dịch nghĩa: 
Thả trâu 
Tình cờ hướng về làng xóm của Quy Sơn mà tìm được mái nhà, 
Cam làm người chăn trâu trong chốn hoang vu; 
Ơn đức quốc vương rộng như bể, 
Nhưng xin cứ tuỳ phận với chút ít cỏ nước mùa xuân.

Dịch thơ: 
I
Quy Sơn xóm nọ bỗng quay sang, 
Cam nhận chăn trâu chốn nội hoang; 
Ơn đức quốc vương như biển cả, 
Riêng vui cỏ suối với hoa ngàn. 
                                        Đỗ Văn Hỷ 

II
Quay về làng xóm Quy Sơn, 
Chăn trâu trong chốn đồng hoang tháng ngày; 
Quốc vương ân đức cao dày, 
Xin vui với nước, với cây ít nhiều.
                                                          Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
Chăn trâu: sách Truyền đăng lục chép Hòa thượng Đại An nói rằng: “An này ở Quy Sơn đã 30 năm, một hôm thấy con trâu thiến chạy vào vào bụi cỏ, dắt nó về nuôi, hễ nó ăn lúa thì ta quất, lâu dần nó chịu nghe ta. Đến nay thành con trâu trắng toát như sương, thường ở ngay trước mặt, đuổi cũng không đi”. Tác giả mượn điển này để nói tâm sự của mình.




Jul 23, 2013

Tâm vương

Tác giả: Trần Tung 陳嵩
心王
心王無相亦無形
眼自驪珠也不明
欲識這般真面目
呵呵日午打三更
Tâm vương vô tướng diệc vô hình 
Nhãn tự ly châu dã bất minh 
Dục thức giá ban chân diện mục 
Ha ha nhật ngọ đả tam canh

Dịch nghĩa: 
Vua tâm 
Vua tâm không tướng cũng không hình, 
Dù mắt sáng như hạt châu dưới cằm con rồng cũng không thấy được; 
Muốn biết được "khuôn mặt thực" của nó, 
A ha! Giữa trưa cứ ngủ thẳng tới canh ba.

Dịch thơ: 
I 
Không hình, không tướng "chúa tâm" ta, 
Mắt dẫu ly châu đố nhận ra; 
Muốn biết đâu là "khuôn mặt thực", 
Giữa trưa ngủ tít đến canh ba. 
                                                Huệ Chi 

II 
“Chúa tâm” không tướng không hình, 
Mắt như ngọc sáng chẳng hình dung ra; 
"Khuôn mặt thực" muốn nhận ra, 
Giữa trưa ngủ đến canh ba một lèo. 
                                                Đỗ Quang Liên 



Chú thích: Tâm là chúa tể của cảm giác, tình ý, bao gồm tám thức (The eight kinds of consciousness) gọi là Bát thức tâm vương: 
1. Nhãn thức (Eye consciousness)
2. Nhĩ thức (Ear consciousness)
3. Tị thức (Nose consciousness)
4. Thiệt thức (Tongue consciousness)
5. Thân thức (Body consciousness)
6. Ý thức (Mental consciousness)
7. Mạt na thức (Subconscious-mind): cầm bắt lấy chỗ thấy, biết 
8. A lại da thức (Foundation consciousness): tâm thức gồm thâu tất cả các thức trên.

Jul 19, 2013

90. Chí đạo vô nan

Tác giả: Trần Tung 陳嵩
至道無難
至道無難莫道難
回頭轉腦覺瞞肝
將心卻向求心漸
大似粘魚上竹竿


Chí đạo vô nan mạc đạo nan 
Hồi đầu chuyển não giác man can 
Tương tâm khước hướng cầu tâm tiệm 
Đại tự niêm ngư thướng trúc can

Dịch nghĩa: 
Đạo lớn không khó 
Đạo lớn không khó đừng nói khó, 
Quay đầu, động não, cảm thấy mờ mịt; 
Nếu lại đem lòng mình hướng vào tim ma quỷ ở trong lòng, 
Thì có khác gì con cá măng nhảy lên ngọn trúc.

Dịch thơ: 
I 
Đạo lớn khó gì đừng nói khó, 
Bần thần vặn óc với quay đầu; 
Tâm kia, lại muốn tìm ra quỷ, 
Cá vọt cành tre, có khác đâu. 
                                      Huệ Chi 

II 
Đạo lớn đâu có khó gì, 
Quay đầu, vặn óc, thấy chi mịt mờ; 
Muốn tìm quỷ giữa tâm ta, 
Cá măng mà vượt ngọn tre, khác nào!


Chú thích: 
Tâm tiệm: ma quỷ ở trong lòng, cách nói hình ảnh chỉ sự câu chấp trong ý tưởng người tu hành, coi mọi hiện tượng là có và thân mình là có, chính là một sự câu chấp. 
Cá măng nhảy lên ngọn trúc: khi Mai Thánh Du phụng chiếu tu chính Đường thư, người vợ nói: tôi xem bước đường làm quan của ông chỉ như cá măng nhảy lên ngọn trúc rồi lại rơi xuống nước mà thôi.





Jul 18, 2013

Giản để tùng

Tác giả: Tuệ trung thượng sĩ 慧中上士
澗底松
最愛青松種幾年
休嗟地勢所居偏
棟樑未用人休怪
野草閒花滿目前

Tối ái thanh tùng chủng kỷ niên 
Hưu ta địa thế sở cư thiên 
Ðống lương vị dụng nhân hưu quái 
Dã thảo nhàn hoa mãn mục tiền

Dịch nghĩa: 
Cây thông dưới khe 
Rất yêu cây thông xanh trồng mấy năm nay, 
Đừng thở than ở vào địa thế hiu quạnh; 
Tài rường cột chưa được dùng, người đời chớ lấy làm lạ, 
Nơi đây cỏ nội hoa nhàn đầy cả trước mắt.

Dịch thơ: 
I 
Mấy năm yêu dấu gốc tùng xanh, 
Đừng thở than rằng đất vắng tanh; 
Rường cột chưa dùng, người chớ lạ, 
Hoa nhàn, cỏ nội khắp chung quanh. 
                                  Đào Phương Bình 

II 
Thông xanh trồng đã lâu năm, 
Chẳng tham thế đất ở vùng dưới sâu; 
Chưa dùng rường cột, ngại đâu, 
Hoa rừng, cỏ nội tươi màu chung quanh. 
                                             Đỗ Quang Liên 


Chú thích:  
Điển cố: Lương đống tức Rường cột, thường được dùng theo nghĩa: kẻ sỹ có tài năng lớn, làm chỗ dựa cho triều đình.




Jul 17, 2013

Xuất trần

Tác giả: Tuệ trung thượng sĩ 慧中上士
出塵
曾為物慾役勞軀
擺落塵囂世外遊
撒手那邊超佛祖
一回抖擻一回休

Tằng vi vật dục dịch lao khu 
Bãi lạc trần hiêu thế ngoại du
Tán thủ ná biên siêu Phật tổ 
Nhất hồi đẩu tẩu nhất hồi hưu

Dịch nghĩa: 
Ra khỏi bụi trần 
Từng bị vật dục sai khiến làm mệt cái thân, 
Thoát khỏi bụi trần ồn ào mà rong chơi ngoài cõi thế; 
Buông tay sang bên kia, vượt qua Phật tổ, 
Mỗi lần gột rửa là mỗi lần nghỉ ngơi.

Dịch thơ: 
I 
Vật dục hành cho xác mệt nhoài, 
Ruổi rong thoát quách chốn trần ai; 
Buông tay sang đấy, ta siêu Phật, 
Gột rửa bao hồi, bấy nghỉ ngơi.   
                                               Huệ Chi 

II 
Vật dục hành xác mệt nhoài, 
Rong chơi, thoát quách trần ai bụi lầm; 
Tay buông, siêu Phật, niệm thần, 
Một lần gột rửa, một lần an vui 
                                      Đỗ Quang Liên 


Chú thích: 
Gột rửa: dịch ý chữ Đẩu tẩu, là thuật ngữ tiếng Phạn được phiên âm, cũng phiên âm là Đầu đà, có nghĩa là gột rửa sạch phiền não trong lòng. Đây là một thể thức tu hành gồm 13 khoản, chia ra mỗi năm 2 kỳ, từ 15/1 đến 15/3 và 15/8 đến 15/10 âm lịch.




Jul 15, 2013

Ngẫu tác

Tác giả: Tuệ Trung thượng sĩ 陳嵩
偶作
堂中端坐寂無言
閑看崑崙一縷煙
自是倦時心自息
不関攝念不関禪

Ðường trung đoan tọa tịch vô ngôn 
Nhàn khán Côn Luân nhất lũ yên 
Tự thị quyện thời tâm tự tức 
Bất quan nhiếp niệm bất quan thiền

Dịch nghĩa: 
Chợt hứng làm thơ 
Ngồi ngay ngắn giữa nhà, lặng lẽ không nói, 
Thảnh thơi nhìn một tia khói trên núi Côn Luân; 
Khi nào mỏi mệt thì tâm tự tắt, 
Chẳng cần niệm Phật, chẳng cần thiền.

Dịch thơ: 
I 
Giữa nhà không nói, chỉ ngồi yên, 
Nhàn ngắm Côn Luân sợi khói lên; 
Lúc mệt mỏi rồi tâm tự tắt, 
Cần chi niệm Phật với cầu Thiền.
                                             Huệ Chi

II 
Giữa nhà không nói, ngồi yên, 
Lặng nhìn tia khói Côn Luân lên trời; 
Lúc mệt, tâm tự nghỉ ngơi, 
Chẳng lo giữ ý, giữ hơi, cầu Thiền. 
                                        Đỗ Quang Liên 


Chú thích: 
Côn Luân: Thư tịch cổ nói có 3 ngọn núi mang tên Côn Luân 
1. Quãng núi giữa hai tỉnh Cam Túc và Tân Cương, Trung Quốc 
2. Quảng Tây, Trung Quốc có núi Côn Luân ở Đông Bắc huyện Ung Ninh 
3. Việt Nam xưa cũng có núi Côn Lôn, bắt nguồn từ Nam Trung Quốc sang Cao Bằng, kéo đến Thái Nguyên. 
Có lẽ Tuệ Trung thượng sỹ muốn nói đến ngọn núi thứ nhất, vì nó được coi là ngọn núi thần. Con mắt nhìn được tia khói là mắt Tuệ, người đã đắc đạo.


Jul 12, 2013

85. Thị học

Tác giả: Trần Tung 陳嵩
示學
學者紛紛不奈何
徒將瓴甋苦相磨
報君休倚他門戶
一點春光處處花

Học giả phân phân bất nại hà 
Ðồ tương linh đích khổ tương ma 
Báo quân hưu ỷ tha môn hộ 
Nhất điểm xuân quang xứ xứ hoa

Dịch nghĩa: 
Gợi bảo người học đạo 
Người học đạo rối bời, chẳng biết làm sao đây, 
Luống công mang viên gạch mài vào nhau  một cách khổ sở; 
Báo cho anh biết đừng có dựa vào cổng ngõ nhà khác, 
Chỉ một chấm sáng mùa xuân vừa lóe hiện thì khắp chốn đều nở hoa.

Dịch thơ: 
I 
Học đạo mênh mang ai có hay, 
Gạch đem mài gạch nhọc nhằn thay;
Cửa người anh hãy thôi nương dựa,   
Một ánh xuân về hoa đó đây. 
                                          Đỗ Văn Hỷ 

II 
Rối bời học đạo sao đây? 
Gạch đem mài gạch khổ thay mệt nhoài; 
Hãy thôi dựa cửa nhà người, 
Ánh xuân vừa hé, khắp nơi hoa bừng. 
                                              Đỗ Quang Liên 


Chú thích: 
Gạch đem mài gạch: lấy ý câu nói của Mã Tổ với Bách Trượng rằng “Ngồi thiền không thể thành Phật được”. Ý khuyên học trò đừng nên câu nệ vào sách vở, chữ nghĩa, vì nếu chỉ cứ nghiền ngẫm chữ nghĩa thì không thể trực cảm được tâm linh của Thiền.


Jul 11, 2013

Thị chúng

Tác giả: Tuệ Trung thượng sĩ  慧中上士
示眾
世間宜妄不宜真
真妄之心亦是塵
要得一高超彼岸
好參童子面前人

Thế gian nghi vọng bất nghi chân 
Chân vọng chi tâm diệc thị trần 
Yếu đắc nhất cao siêu bỉ ngạn 
Hiếu tham đồng tử diện tiền nhân

Dịch nghĩa: 
Gợi bảo mọi người 
Thế gian ưa dối không ưa thực, 
Cái tâm thực hay dối cũng đều là bụi cả; 
Nếu muốn vượt lên cao sang bờ bến kia, 
Hãy hỏi đứa trẻ thơ ở ngay trước mặt.

Dịch thơ: 
I 
"Dối" ưa "thực" ghét, ấy trò đời, 
Thực dối tâm kia, bụi cả thôi; 
Muốn nhảy cho cao sang bến nọ, 
Hỏi xem con trẻ, có như lời. 
                                     Huệ Chi 

II 
Trò đời “thực” ghét, “dối” ưa, 
Cái tâm thực, dối đều là bụi thôi; 
Vượt cao sang bến kia rồi, 
Hỏi trẻ trước mặt như lời hay chăng? 
                                         Đỗ Quang Liên 


Chú thích:
Phật giáo thường dùng khái niệm “đồng tử” (trẻ thơ) để ví với tâm và tính con người còn trong trạng thái hồn nhiên, chân chất, tức là còn giữ nguyên được Phật tính, chưa bị “sắc tướng” làm sai lạc. 
Trẻ thơ ở đây được coi là đối tượng tham cứu của người học đạo, vì vốn có những phẩm chất ấy.




Jul 10, 2013

Điệu tiên sư

Tác giả: Trần Tung 陳嵩



悼先師
一曲無生唱了時
擔橫篳栗故鄉歸
上頭打過胡何有
一箇泥牛任倒騎

Nhất khúc vô sinh xướng liễu thì 
Đảm hoành tất lật cố hương quy 
Thượng đầu đả quá hồ hà hữu 
Nhất cá nê ngưu nhậm đảo ky

Dịch nghĩa: 
Thương xót bậc thầy xưa 
Khi hát xong khúc hát vô sinh, 
Thì cầm ngang ống sáo trở về làng cũ;
Bỏ qua cái trước đây không có gì cả, 
Mặc sức cưỡi ngược con trâu đất.

Dịch thơ: 
I 
Vừa lúc vô sinh dứt khúc ca, 
Cầm ngang ống sáo lại quê nhà; 
Vượt qua mọi cái "không chi cả", 
Cưỡi ngược trâu bùn mặc sức ta. 
Đỗ Văn Hỷ 

II 
“Vô sinh” vừa dứt khúc ca, 
Sáo cầm ngang, trở về nhà thăm quê; 
Vượt qua cái “Không có gì”, 
Trâu bùn cưỡi ngược mặc ta tìm tòi. 
                                                Đỗ Quang Liên 


Chú thích: 
Khúc hát vô sinh: thuật ngữ trong sách Trang tử: 察其始而本無生非徒無生也而本無形… “Sát kỳ thủy nhi bản vô sinh, phi đồ vô sinh dã, nhi bản vô hình…”, nghĩa là: Xét khởi đầu thì gốc là vô sinh, chẳng phải chỉ là vô sinh thôi, mà vốn là vô hình. 
Phật giáo cũng dùng Vô sinh khúc để chỉ con đường giác ngộ cái chân lý không sinh, không diệt.