Showing posts with label Nam Trân. Show all posts
Showing posts with label Nam Trân. Show all posts

Feb 5, 2014

Nghệ an hành điện

Tác giả:Trần Mạnh 陳奣
乂安行殿
生民一視我胞同
海何心使困窮
蕭相不知高祖意
未央虛費潤青紅

Sinh dân nhất thị ngã bào đồng
Tứ hải hà tâm sử khốn cùng
Tiêu tướng bất tri cao tổ ý
Vị ương hư phí nhuận thanh hồng

Dịch nghĩa: 
Hành cung ở Nghệ An 
Hết thảy sinh dân đều là người ruột thịt của ta,
Nỡ lòng nào để cho bốn bể khốn cùng;
Tướng quốc họ Tiêu không hiểu ý của Cao Tổ,
Tô điểm đỏ xanh cung Vị Ương chỉ là tiêu phí vô ích.

Dịch thơ: 
I
Vua tôi máu mủ giống nòi chung,
Bốn bể sao đang để khốn cùng;
Tiêu tướng vụng suy lòng Hán Tổ,
Phi tiền tô điểm Vị Ương cung. 
                                        Nam Trân. 

II 
Thần dân với Trẫm, đồng bào, 
Trăm họ khốn khổ ta sao nỡ lòng; 
Tiêu Hà chẳng hiểu Hán Vương, 
Phí tiền tô điểm Vị Ương huy hoàng. 
                                             Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
- Việt âm thi tập chú: vua Trần Minh Tông làm thơ này khi đi tuần thú Nghệ An và thân chinh dẹp yên miền Tây, đó là năm 1334. 
- Tiêu Hà: tướng quốc Hán Cao Tổ, người xây dựng cung Vị Ương ở đất Hàm Dương cực kỳ lộng lẫy, Hán Cao Tổ rất giận, cho rằng làm như vậy chi mua hờn chuốc oán với dân.



Jan 27, 2014

Tặng trần bang cẩn họa tượng tịnh thi

Tác giả: Trần Mạnh 陳奣
贈陳邦謹畫象并詩
形容骨格耐冬寒
相貌亭亭亦可觀
風流一段渾描盡
心裡難描耿耿丹

Hình dung ct cách ni đông hàn
Tướng mo đình đình dic kh quan
Phong lưu nht đon hn miêu tn
Tâm lý nan miêu cnh cnh đan

Dịch nghĩa: 
Tặng Trần Bang Cẩn bức chân dung kèm theo bài thơ 
Hình dung cốt cách chịu đựng được giá lạnh mùa đông,
Tướng mạo đường đường cũng đáng xem;
Mọi vẻ phong lưu đều vẽ được hết,
Chỉ khó vẽ tấm lòng son chói sáng mà thôi.

Dịch thơ: 
I
Thân hình rắn rỏi quen sương tuyết,
Tướng mạo khôi ngô ngó cũng giòn;
Mọi vẻ phong lưu đều tả hết,
Mà chưa tả được tấm lòng son. 
                                       Nam Trân 

II 
Kiên cường chẳng ngại tuyết sương, 
Đường hoàng tướng mạo xem chừng dễ coi; 
Phong lưu, nét vẽ tuyệt vời, 
Khó miêu tả nổi rạng ngời lòng son. 
                                             Đỗ Quang Liên 


Chú thích:
- Trần Bang Cẩn làm đến chức Đại Hành Khiển, Thương thư, Tả bộc xạ đời vua Trần Minh Tông.
- Theo Đại Việt sử ký toàn thư, bài thơ này vua Minh Tông làm vào mùa hạ năm Giáp Tý (1324).




Aug 13, 2013

Cung viên xuân nhật ức cựu

Tác giả: Trần Thánh Tông 陳聖宗
宮園春日憶舊
宮門半掩徑生苔
白晝沈沈少往來
萬紫千紅空爛熳
春花如許為誰開

Cung môn bán yểm kính sinh đài 
Bạch trú trầm trầm thiểu vãng lai 
Vạn tử thiên hồng không lạn mạn 
Xuân hoa như hử vị thuỳ khai

Dịch nghĩa: 
Ngày xuân trong vườn ngự nhớ người cũ 
Cửa cung khép hờ, lối đi rêu mọc, 
Giữa ban ngày mà sâu lắng, ít người qua lại; 
Muôn tía nghìn hồng rực rỡ suông mà thôi, 
Hoa xuân đẹp như thế kia, vì ai mà nở?

Dịch thơ: 
Cửa cung nửa khép, đường rêu phủ, 
Ngày lặng đìu hiu, vắng bóng người; 
Muôn tía ngàn hồng đua rực rỡ, 
Hoa xuân dường ấy nở vì ai? 
                                         Nam Trân 

II 
Cửa cung mở hé, đường rêu, 
Ngày dài trầm lặng, ít người lại qua; 
Nghìn hồng muôn tía phôi pha, 
Hoa xuân nở thế, hỏi là vì ai? 
                                   Đỗ Quang Liên

 

May 13, 2013

Tầm hưởng

Tác giả: Tô Minh Trí (?-1196) 蘇明智


尋響
松風水月明
無影亦無形
色身這個是
空空尋響聲

Tùng phong thuỷ nguyệt minh
Vô ảnh diệc vô hình
Sắc thân giá cá thị
Không không tầm hưởng thanh

Dịch nghĩa: 
Tìm tiếng vọng 
Gió trên cành thông, trăng sáng ở dưới nước,
Không có bóng, cũng không có hình; 
Sắc thân cũng như thế đó, 
(Muốn tìm nó có khác chi) tìm tiếng vọng trong khoảng không.

Dịch thơ: 
Trăng nước, gió cành thông, 
Hình không, bóng cũng không; 
Sắc thân như thế đó, 
Tiếng vọng giữa khoảng không. 
                                     Đỗ Quang Liên

Gió cành thông, lòng sông trăng sáng, 
Bóng cũng không, hình dáng cũng không; 
Sắc thân, thân sắc đều không, 
Như tìm tiếng dội trong vòng hư vô. 
                                                   Nam Trân


Chú thích: 
Minh Trí là nhà sư theo dòng thiền Quan Bích, trụ trì ở chùa Phúc Thánh.


Apr 20, 2013

Ngư nhàn

Tác giả: Dương Không Lộ 楊空路

漁閒
萬里青江萬里天
一村桑柘一村煙
漁翁睡著無人喚
過午醒來雪滿船

Vạn lý thanh giang vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên
Ngư ông thuỵ trước vô nhân hoán
Quá ngọ tỉnh lai, tuyết mãn thuyền

Dịch nghĩa: 
Cái nhàn của làng chài 
Sông xanh muôn dặm, trời muôn dặm, 
Một xóm dâu gai, xóm khói mây;
Ông chài ngủ say tít không ai gọi, 
Quá trưa tỉnh dậy, tuyết xuống đầy thuyền

Dịch thơ: 

Vạn dặm sông xanh, trời vạn dặm, 
Từng miền dâu ruối, khói quanh miền; 
Ông chài ngon giấc không ai gọi, 
Tỉnh dậy sau trưa, tuyết ngậm thuyền. 
                                             Nam Trân 

II 
Trời, sông xanh biếc dặm dài, 
Khói mây bao phủ thôn đầy dâu gai, 
Ông già mặc sức ngủ say, 
Quá trưa tỉnh giấc, tuyết bay đầy thuyền. 
                                               Đỗ Quang Liên 

Apr 6, 2013

Nam Quốc sơn hà

Tác giả: Lý Thường Kiệt (1019-1105) 李常傑

南國山河
南國山河南帝居
截然定分在天書
如何逆虜來侵犯
汝等行看取敗虛

Nam quốc sơn hà Nam đế cư 
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư 
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm 
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Dịch nghĩa: 
Núi sông nước Nam 
Núi sông nước Nam thì vua Nam ở, 
Cương giới đã ghi rành rành ở trên sách trời; 
Cớ sao lũ giặc bạo ngược kia dám tới xâm phạm? 
Chúng bay hãy chờ xem, thế nào cũng chuốc lấy bại vong.

Dịch thơ: 
Núi sông Nam Việt vua Nam ở, 
Vằng vặc sách trời chia xứ sở; 
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây? 
Chúng bay nhất định phải tan vỡ. 
                          Lê Thước – Nam Trân

II 
Nước Nam Việt có vua Nam Việt, 
Trên sách trời chia biệt rành rành; 
Cớ sao giặc dám hoành hành, 
Rồi đây bay sẽ tan tành cho coi. 
                                Nguyễn Đổng Chi

III 
Nước Nam, Nam đế trị vì, 
Sách trời phân định đã ghi rõ ràng; 
Cớ sao giặc dữ mò sang, 
Chờ ôm thất bại tan hoang chạy về. 
                                               Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, Thường Kiệt là tên chữ, sau được ban quốc tính, thành tên Lý Thường Kiệt. Ông là người làng An Xá, huyện Quảng Đức, phía nam Hồ Tây, thành Thăng Long. Ông tinh thông thao lược, lại có tài thơ văn. Năm 23 tuổi đã là Hoàng Môn Chi Hậu, sau thăng Thái Úy, làm quan dưới ba triều vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông (1028-1128).
Ông có công đánh Tống, bình Chiêm, được vua Lý Nhân Tông ban hiệu Thiên Tử Nghĩa Đệ (em nuôi của vua). Khi mất, ông được phong Kiểm Hiệu Thái Úy Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự Việt Quốc Công.
Bia chùa Linh Xứng, Hà Trung, Thanh Hóa đã tôn vinh đúng đắn tài đức của ông. Tác phẩm còn bài thơ trên và Lộ Bố Văn, lời tâu xin vua câm quân đi đánh Lý Giác.