Showing posts with label Từ Lộ. Show all posts
Showing posts with label Từ Lộ. Show all posts

Apr 14, 2013

Vấn Kiều Trí Huyền

Tác giả: Từ Lộ Đạo Hạnh (?-1177) 徐路道行

問喬智玄
久混凡塵未識金
不知何處是真心
指的開方便
了見如如斷苦尋

Cửu hỗn phàm trần vị thức câm
Bất tri hà xứ thị chân tâm 
Nguyện thuỳ chỉ đích khai phương tiện 
Liễu kiến như như đoạn khổ tầm

Dịch nghĩa: 
Hỏi Kiều Trí Huyền 
Lăn lóc nhiều giữa cõi phàm trần mà chưa nhận rõ vàng thau, 
Chẳng biết nơi nào là chân tâm. 
Mong người rủ lòng chỉ cho cái đích và mở ra phương tiện, 
Để thấy rõ "như như", khỏi phải khổ công tìm kiếm.

Dịch thơ: 
I
Lăn lóc tìm châu giữa bụi đời, 
“Chân tâm” nào đã thấy tăm hơi! 
Dám mong chỉ lối; giùm phương tiện,
Nhìn rõ "như như", khổ hận vơi. 
                                              Huệ Chi 

II
Tìm vàng lẫn lộn giữa đời,
“Chân tâm” chưa biết tăm hơi chốn nào;
Chỉ cho đích đến, đường vào,
"Như như" thấy rõ, bớt bao công tìm. 
                                  Đỗ Quang Liên

Chú thích:
Như như: đồng nghĩa với Chân như, chỉ cái bản thể vũ trụ, chân thực, trường tồn, bất biến; tương đương với thực tướng, pháp giới, viên thành, pháp tính, thực tính.


Apr 13, 2013

Hữu không

Tác giả: Từ Lộ Đạo Hạnh (?-1177) 徐路道行

有空
作有塵沙有
為空一切空
有空如水月
勿著有空空

Tác hữu trần sa hữu 
Vi không nhất thiết không 
Hữu không như thuỷ nguyệt 
Vật trước hữu không không

Dịch nghĩa: 
Có và Không
Bảo là "có", thì từ hạt cát, mảy bụi cũng có, 
Cho là "không", thì hết thảy đều không; 
"Có" với "không" như ánh trăng dưới nước, 
Đừng bám hẳn vào cái "có" và đừng cho cái "không" là không.

Dịch thơ: 
Bảo “Có”, mảy bụi có, 
Rằng “Không: hết thảy không; 
“Có”, “Không” trăng dưới nước, 
Đừng chấp “Có” và “Không”. 
                                  Đỗ Quang Liên

II 
Có, thì có tự mảy may, 
Không, thì cả thế gian này cũng không; 
Vừng trăng vằng vặc in sông, 
Chắc chi có có, không không mơ màng. 
                                                           Huyền Quang


Chú thích: 
1. Từ Lộ giữ chức Tăng Quan Đô Án thời Lý; Không rõ năm sinh, quê quán; Trú quán ở hương Yên Lãng, tức làng Láng, Hà Nội. 

2. Tương truyền bài dịch này là của Huyền Quang (1254-1334), nhà sư đời Trần.


Apr 11, 2013

Thất châu

Tác giả: Từ Lộ Đạo Hạnh (?-1177) 徐路道行

失珠
日月出岩頭
人人盡失珠
富人有駒子
步行不騎駒

Nhật nguyệt xuất nham đầu 
Nhân nhân tận thất châu 
Phú nhân hữu câu tử 
Bộ hành bất kỵ câu.

Dịch nghĩa: 
Mất hạt châu 
Mặt trời rồi mặt trăng kế nhau, mọc ở đầu núi, 
Trên cõi đời này, người nào người ấy đều đánh mất hạt ngọc của mình; 
Như anh nhà giàu có con ngựa quý, 
Lại đi bộ mà không cưỡi ngựa.

Dịch thơ: 
Nhật nguyệt ló non Đoài, 
Người người mất hạt trai; 
Như nhà giàu có ngựa, 
Bỏ ngựa đi chân hoài. 
                              Đỗ Văn Hỷ 

II 
Nhật nguyệt vẫn mọc đầu non, 
Mọi người mất hết, đâu còn ngọc trai; 
Giàu sang có ngựa như ai, 
Bỏ ngựa không cưỡi, đi hoài chân không! 
                                                           Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
Từ Lộ, con ông Từ Vinh, ông thuộc thế hệ thứ 12 dòng thiền Nam Phương, nhưng pháp tu lại gần phái Mật Tông, tu ở chùa Thiên Phúc, Quốc Oai, Hà Nội. 

Hạt châu là chỉ cái trực quan, cái nhìn tổng hợp của người ta sau khi đã thấy được bản thể.