Showing posts with label Nguyễn Đức Vân - Đào Phương Bình. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Đức Vân - Đào Phương Bình. Show all posts

May 15, 2013

Đạo

Tác giả: Phạm Thường Chiếu (?-1203) 范常照



道本無顏色
新鮮日日誇
大千沙界外
何處不為家

Đạo bản vô nhan sắc 
Tân tiên nhật nhật khoa 
Đại thiên sa giới ngoại 
Hà xứ bất vi gia

Dịch nghĩa: 
Đạo 
Đạo vốn không có nhan sắc, 
Nhưng ngày ngày vẫn phô bày vẻ mới lạ, tươi trẻ; 
Dù ở ngoài thế giới sa bà, tức ba nghìn đại thiên thế giới,
Chốn nào mà chẳng là nhà của nó.

Dịch thơ: 

Đạo vốn không màu sắc, 
Ngày phô vẻ mới tươi, 
Cả hà sa thế giới, 
Đâu cũng nhà nó thôi.
      Đào Phương Bình – Nguyễn Đức Vân. 

II 
Đạo vốn không có sắc màu, 
Ngày ngày phô vẻ mới tươi lạ kỳ; 
Dù ngoài thế giới sa bà, 
Chốn nào mà chẳng là nhà nó ru! 
                                Đỗ Quang Liên 


May 10, 2013

Hưu hướng Như Lai

Tác giả: Nguyễn Quảng Nghiêm (1121-1190) 阮廣嚴

休向如來
離寂方言寂滅去
生無生後說無生
男兒自有衝天志
休向如來行處行

Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ 
Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh 
Nam nhi tự hữu xung thiên chí 
Hưu hướng như lai hành xứ hành

Dịch nghĩa: 
Đừng theo bước Như Lai 
Thoát ly được lòng ham muốn đi vào Niết Bàn, mới có thể bàn chuyện đi vào Niết Bàn, 
Sau khi sinh vào cõi vô sinh rồi mới có thể nói vô sinh; 
Nam nhi tự mình có cái chí tung trời, 
Đừng đi theo bước đi của Như Lai.

Dịch thơ: 
I
Thoát tịch diệt xong, bàn tịch diệt, 
Sau vô sinh hãy nói vô sinh; 
Làm trai lập chí xông trời thẳm, 
Theo gót Như Lai huống nhọc mình. 
               Nguyễn Đức Vân – Đào Phương Bình

Rời tịch diệt mới hay tịch diệt, 
Sau vô sinh mới biết vô sinh; 
Chí trai xông thẳng trời xanh, 
Phật làm – không nhất thiết mình đi theo. 
                                                          Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
Quảng Nghiêm người đất Đan Phượng, thế hệ thứ 11 dòng thiền Quan Bích. Mới đầu, ông học người cậu là Bảo Nhật, sau học sư Trí Thiền ở chùa Phúc Thánh. Khi đắc đạo, ông trụ trì ở chùa Thánh Ân, hương Siêu Loại. Về sau Thượng thư Bộ binh Phùng Giáng Tường mời ông đến tu ở chùa Tịnh Quả. 

Tịch diệt: thuật ngữ đạo Phật, nghĩa của hai chữ Niết Bàn. 
Vô sinh: thuật ngữ đạo Phật, chỉ tính chất không sinh, không diệt của Niết Bàn. 

Như Lai là một trong 10 danh hiệu của Phật, được giải thích theo 3 nghĩa: 
1/ Pháp thân Như Lai: Ở khắp nơi không có sự khác biệt là “Như”, không động mà đi tới là “Lai”. 
2/ Báo thân Như Lai: theo lý, gọi là “Như”, theo trí gọi là “Lai”. 
3/ Ứng thân Như Lai: đi theo con đương của chân như để thành chính giác thì gọi là “Như Lai”.





May 9, 2013

Chân tính

Tác giả: Hứa Đại Xả 許大捨


真性
四蛇同篋本元空
五蕰山高亦不宗
真性灵明無罣碍
涅盘生死任遮籠

Tứ xà đồng kiệp bản nguyên không 
Ngũ uẩn sơn cao diệc bất tông 
Chân tính linh minh vô khuể ngại 
Niết bàn sinh tử nhiệm già lung

Dịch nghĩa: 
Chân tính 
Đất, nước, lửa, gió cùng chung trong hộp vật chất, thực ra vốn là hư không, 
Năm yếu tố làm thành thân thể và tâm trí người ta tuy như núi cao song cũng chẳng có nguồn gốc; 
Nếu chân tính thiêng liêng sáng suốt chẳng vướng mắc gì, 
Thì có kể chi sự ràng buộc của niết bàn và sinh tử.

Dịch thơ: 
I
Tứ xà cùng hộp vốn nguyên không, 
Ngũ uẩn non cao chẳng có dòng. 
Chân tính sáng thiêng không vướng mắc, 
Niết bàn, sinh tử mặc lao lung.   
                        Nguyễn Đức Vân, Đào Phương Bình

II
Tứ xà cùng hộp vốn không, 
Non cao ngũ uẩn chẳng tông tích gì; 
Sáng thông chân tính vướng chi, 
Niết bàn, sinh tử ngại gì lao lung. 
                                               Đỗ Quang Liên 


Chú thích: 
Tứ xà cũng là Tứ đại gồm: đất, nước, lửa, gió cùng là vật chất. 
Ngũ uẩn gồm: sắc, thụ, tưởng, hành, thức, năm yếu tố hợp thành thân thể và tâm trí con người.



Apr 24, 2013

Truy tán Sùng Phạm thiền sư

Tác giả Lý Càn Đức 李乾德

贊崇范禪師
崇范居南國
心空及第歸
耳長迴瑞質
法法盡離微

Sùng Phạm cư Nam quốc
Tâm không cập đệ quy
Nhĩ trường hồi thuỵ chất
Pháp pháp tận ly vi.

Dịch nghĩa: 
Truy tán thiền sư Sùng Phạm 
Sùng Phạm sinh ở nước Nam,
Tâm hư không, thi đỗ trở về.
Tai dài đưa về chất báu lạ, 
Người đã thông hiểu rằng thế giới hiện tượng đều là "ly vi".

Dịch thơ: 
Sùng Phạm quê Nam quốc, 
Tâm không đắc đạo về; 
Tai dài, điềm báu lạ, 
Pháp pháp thảy “ly vi”. 
             Nguyễn Đức Vân – Đào Phương Bình 

II 
Sùng Phạm sinh ở nước Nam, 
Tâm không, đắc đạo về làm thiền sư; 
Tai dài, điềm báu lạ kỳ, 
Niết Bàn, Bát Nhã “ly vi” tuyệt vời. 
                                                        Đỗ Quang Liên

Chú thích: 
Sùng Phạm họ Mân (?-1087) học đạo 9 năm ở Thiên Trúc, về nước được vua nhà Tiền Lê và nhà Lý rất tôn trọng. 
Ly: chỉ cái thể tĩnh tại, trường tồn của bản thể vũ trụ, cũng gọi là Niết Bàn. 
Vi: chỉ cái dụng, tức thế giới hiện tượng sinh động, cũng gọi là Bát Nhã.

Apr 22, 2013

30. Truy tán Vạn Hạnh Thiền Sư

Tác giả: Lý Càn Đức (Nhân Tông 1066-1128) 李乾德仁宗
追贊萬行禪師
萬行融三際
真符古讖詩
鄉關名古法
柱錫鎮王畿

Vạn Hạnh dung tam tế 
Chân phù cổ sấm thi 
Hương quan danh Cổ Pháp 
Trụ tích trấn vương kỳ.

Dịch nghĩa: 
Truy tán Thiền sư Vạn Hạnh 
Vạn Hạnh học rộng,  thông suốt được ba cõi, 
Lời nói của sư quả phù hợp với những câu thơ sấm cũ;
Quê hương là làng Cổ Pháp, 
Chống gậy tầm xích trấn vững kinh kỳ.

Dịch thơ: 
Vạn Hạn thông ba cõi, 
Lời ông nghiệm sấm thi; 
Quê hương làng Cổ Pháp, 
Chống gậy trấn Kinh Kỳ. 
                 Nguyễn Đức Vân - Đào Phương Bình 

II 
Học rộng ba cõi đều thông, 
Lời Sư quả hợp những dòng sấm xưa; 
Chính gốc Cổ Pháp quê mùa, 
Gậy tích chống vững Kinh Kỳ dài lâu. 
                                                  Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
Càn Đức là con trưởng của vua Lý Thánh Tông và phu nhân Ỷ Lan, ông lên ngôi năm 7 tuổi, làm vua được 56 năm, mấy lần đánh Nam, dẹp Bắc, đập tan âm mưu xâm lược của nhà Tống. Ông lập khoa thi Tam Trường, lập Quốc Tử Giám, đặt nền móng cho sự phát triển Nho giáo ở Việt Nam. Lê Quý Đôn ca tụng là vị anh quân đời Lý. 

Tam tế là ba cõi: Trời, Đất, Người. 

Hai câu thơ trên khen lời tiên đoán của Vạn Hạnh về việc nhà Lý ra đời, cũng ứng nghiệm như bài thơ sấm thời đó! (khi vua Lý Công Uẩn còn nhỏ, học ở chùa Lục Tổ, sư Vạn Hạnh đã nói đứa bé này không phải người thường, lớn lên có thể giải quyết được mọi việc khó khăn,…)