Showing posts with label Lý Càn Đức (Nhân Tông). Show all posts
Showing posts with label Lý Càn Đức (Nhân Tông). Show all posts

Apr 24, 2013

Truy tán Sùng Phạm thiền sư

Tác giả Lý Càn Đức 李乾德

贊崇范禪師
崇范居南國
心空及第歸
耳長迴瑞質
法法盡離微

Sùng Phạm cư Nam quốc
Tâm không cập đệ quy
Nhĩ trường hồi thuỵ chất
Pháp pháp tận ly vi.

Dịch nghĩa: 
Truy tán thiền sư Sùng Phạm 
Sùng Phạm sinh ở nước Nam,
Tâm hư không, thi đỗ trở về.
Tai dài đưa về chất báu lạ, 
Người đã thông hiểu rằng thế giới hiện tượng đều là "ly vi".

Dịch thơ: 
Sùng Phạm quê Nam quốc, 
Tâm không đắc đạo về; 
Tai dài, điềm báu lạ, 
Pháp pháp thảy “ly vi”. 
             Nguyễn Đức Vân – Đào Phương Bình 

II 
Sùng Phạm sinh ở nước Nam, 
Tâm không, đắc đạo về làm thiền sư; 
Tai dài, điềm báu lạ kỳ, 
Niết Bàn, Bát Nhã “ly vi” tuyệt vời. 
                                                        Đỗ Quang Liên

Chú thích: 
Sùng Phạm họ Mân (?-1087) học đạo 9 năm ở Thiên Trúc, về nước được vua nhà Tiền Lê và nhà Lý rất tôn trọng. 
Ly: chỉ cái thể tĩnh tại, trường tồn của bản thể vũ trụ, cũng gọi là Niết Bàn. 
Vi: chỉ cái dụng, tức thế giới hiện tượng sinh động, cũng gọi là Bát Nhã.

Apr 23, 2013

Tán Giác Hải thiền sư, Thông Huyền đạo nhân

Tác giả: Lý Càn Đức 李乾德

贊覺海禪師通玄道人
覺海心如海
通玄道更玄
神通能變化
一佛一神仙

Giác Hải tâm như hải
Thông Huyền đạo cánh huyền
Thần thông năng biến hoá
Nhất Phật nhất Thần tiên.

Dịch nghĩa: 
Khen Thiền sư Giác Hải và Đạo nhân Thông Huyền 
Giác Hải lòng như biển,
Thông Huyền đạo lại càng huyền diệu;
Thần thông và biến hoá,
Một người là Phật, một người là thần tiên.

Dịch thơ: 
Giác Hải lòng như biển, 
Thông Huyền đạo rất huyền, 
Thần thông kiêm biến hóa, 
Một Phật, một Thần tiên. 
                        Phạm Trọng Điềm 

II 
Giác Hải lòng tựa biển sâu, 
Thông Huyền lẽ đạo biết bao diệu huyền; 
Thần thông biến hóa vô biên, 
Người là Phật, người là Tiên khác nào. 
                                                        Đỗ Quang Liên


Apr 22, 2013

30. Truy tán Vạn Hạnh Thiền Sư

Tác giả: Lý Càn Đức (Nhân Tông 1066-1128) 李乾德仁宗
追贊萬行禪師
萬行融三際
真符古讖詩
鄉關名古法
柱錫鎮王畿

Vạn Hạnh dung tam tế 
Chân phù cổ sấm thi 
Hương quan danh Cổ Pháp 
Trụ tích trấn vương kỳ.

Dịch nghĩa: 
Truy tán Thiền sư Vạn Hạnh 
Vạn Hạnh học rộng,  thông suốt được ba cõi, 
Lời nói của sư quả phù hợp với những câu thơ sấm cũ;
Quê hương là làng Cổ Pháp, 
Chống gậy tầm xích trấn vững kinh kỳ.

Dịch thơ: 
Vạn Hạn thông ba cõi, 
Lời ông nghiệm sấm thi; 
Quê hương làng Cổ Pháp, 
Chống gậy trấn Kinh Kỳ. 
                 Nguyễn Đức Vân - Đào Phương Bình 

II 
Học rộng ba cõi đều thông, 
Lời Sư quả hợp những dòng sấm xưa; 
Chính gốc Cổ Pháp quê mùa, 
Gậy tích chống vững Kinh Kỳ dài lâu. 
                                                  Đỗ Quang Liên


Chú thích: 
Càn Đức là con trưởng của vua Lý Thánh Tông và phu nhân Ỷ Lan, ông lên ngôi năm 7 tuổi, làm vua được 56 năm, mấy lần đánh Nam, dẹp Bắc, đập tan âm mưu xâm lược của nhà Tống. Ông lập khoa thi Tam Trường, lập Quốc Tử Giám, đặt nền móng cho sự phát triển Nho giáo ở Việt Nam. Lê Quý Đôn ca tụng là vị anh quân đời Lý. 

Tam tế là ba cõi: Trời, Đất, Người. 

Hai câu thơ trên khen lời tiên đoán của Vạn Hạnh về việc nhà Lý ra đời, cũng ứng nghiệm như bài thơ sấm thời đó! (khi vua Lý Công Uẩn còn nhỏ, học ở chùa Lục Tổ, sư Vạn Hạnh đã nói đứa bé này không phải người thường, lớn lên có thể giải quyết được mọi việc khó khăn,…)