Showing posts with label Nguyễn Ức. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Ức. Show all posts

Mar 11, 2014

Đề cố bộ hạc đồ

Tác giả: Nguyễn Ức 阮億
題顧步鶴圖
一堆老石竹參差
孤鶴便翾未肯飛
回首不須防在後
網羅正是眼前機

Nhất đôi lão thạch trúc sâm si
Cô hạc biền huyên vị khẳng phi
Hồi thủ bất tu phòng tại hậu
Võng la chính thị nhãn tiền ky

Dịch nghĩa: 
Đề tranh "Cố bộ hạc"
Một đống đá cũ, khóm trúc loi thoi,
Con hạc cô đơn dùng dằng chưa chịu bay;
Đừng ngoảnh đầu lại đề phòng đằng sau,
Lưới giăng chính là cơ sự đã ở ngay trước mắt.

Dịch thơ: 
Khóm trúc loi thoi, đá mấp mô,
Dùng dằng cánh hạc, thế đơn cô;
Thôi đừng ngoảnh lại đằng sau nữa,
Lưới trước chờ kia chẳng phải dò!
                                           Tuấn Nghi 

II 
Trúc loi thoi, đá mấp mô, 
Chưa bay, cánh hạc thế cô ngập ngừng; 
Ngoảnh nhìn sau cũng chẳng bằng,
Đề phòng trước mắt lưới giăng sẵn chờ.
                                                    Đỗ Quang Liên

Chú thích:  
Cố bộ hạc đồ: Bức tranh vẽ con hạc vừa đi vừa ngoảnh lại




Mar 10, 2014

Tống nhân bắc hành

Tác giả: Nguyễn Ức 阮億
Dịch thơ: Đỗ Quang Liên

送人北行
都門回首樹蒼蒼
立馬頻斟勸客觴
一段離情禁不得
津頭折柳又斜陽

Ðô môn hồi thủ thụ thương thương
Lập mã tần châm khuyến khách trường
Nhất đoạn ly tình câm bất đắc
Tân đầu chiết liễu hựu tà dương

Dịch nghĩa: 
Tiễn người đi phương Bắc 
Ngoảnh lại cửa đô thành cây cối xanh xanh,
Dừng ngựa liên tiếp rót rượu mời khách;
Không sao ngăn nổi, một khúc tình ly biệt,
Bên bến sông bẻ cành liễu trong bóng chiều tà.

Dịch thơ: 
Cổng thành ngoái lại lá xanh tươi, 
Dừng ngựa kèo thêm chén rượu mời; 
Tình cảm biệt ly kìm chẳng nổi, 
Bên cầu bẻ liễu ánh chiều vơi… 

II 
Cổng thành ngoái ngắm cây xanh, 
Dừng cương rót rượu nài anh chén mời; 
Khôn ngăn tình lụy chia phôi, 
Bến sông bẻ liễu vơi vơi ánh tà.


Chú thích: 
Người đời Hán thường bẻ cành liễu bên cầu Bá Kiều ở Đông Trường An khi tiễn nhau (ý để làm roi ngựa).





Mar 7, 2014

Trai tiền bồn tử lan hoa

Tác giả: Nguyễn Ức 阮億
Dịch thơ: Đỗ Quang Liên

齋前盆子蘭花
高標曾識楚辭中
一種風光九畹同
天似有情憐寂寞
為留清馥伴吟翁

Cao tiêu tằng thức sở từ trung 
Nhất chủng phong quang cửu uyển đồng 
Thiên tự hữu tình liên tịch mịch 
Vị lưu thanh phức bạn ngâm ông 

Dịch nghĩa: 
Chậu hoa lan trước nhà 
Từng biết được nêu cao trong Sở từ,
Một vẻ phong quang chín khoảnh đất đều giống nhau; 
Trời hình như có ý thương cảnh vắng vẻ,
Đã để lại mùi thơm trong sạch làm bạn với nhà thơ.

Dịch thơ: 
Sở từ từng biết được đề cao, 
Chín khoảnh phong quang cũng giống nhau; 
Vắng vẻ, trời thương, dành để lại, 
Hương thơm làm bạn khách thanh tao. 

II 
Sở từ từng đã đề cao, 
Cùng loài chín khoảnh tươi màu phong quang; 
Quạnh hiu, trời rủ lòng thương, 
Lưu hương thơm ngát bạn cùng khách thơ.


Chú thích: 
- Sở từ: ở đây chỉ thơ của Khuất Nguyên nói chung. 
- Chín khoảnh đất (cửu uyển): trong Ly Tao của Khuất Nguyên có câu: “Dư ký tư lan chi cửu uyển hề, hựu thụ huệ chi bách mẫu” nghĩa là Ta đã trồng lan chín khoảnh, lại trồng huệ trăm mẫu.



Mar 6, 2014

250. Trùng dương tiền nhất nhật đáo cúc đường cựu cư hữu cảm

Tác giả: Nguyễn Ức 阮億
Dịch thơ: Đỗ Quang Liên


重陽前一日到菊堂舊居有感
高會龍山蹟已陳
西風回首淚沾巾
貞心卻愛東籬菊
肯把清香媚別人

Cao hội long sơn tích dĩ trần
Tây phong hồi thủ lệ triêm cân
Trinh tâm khước ái đông ly cúc
Khẳng bả thanh hương mị biệt nhân

Dịch nghĩa: 
Cảm xúc khi đến ngôi nhà cũ của Cúc Đường vào ngày trước Tết Trùng Dương 
Cuộc yến hội ở Long Sơn dấu vết đã mờ,
Gió tây thổi ngoảnh đầu lại, nước mắt thấm khăn;
Lòng trong trắng chỉ yêu hoa cúc ở giậu phía đông,
Há chịu đem hương, thanh mơn trớn kẻ khác.

Dịch thơ: 
Yến hội Long Sơn dấu đã phai, 
Quay đầu, gió lộng, lệ tuôn dài; 
Tấm trinh mến cúc bên Đông giậu, 
Há chịu hương thanh mơn trớn ai. 

II 
Hội Long Sơn dấu đã mờ, 
Ngoái nhìn gió nổi, lệ nhòa thấm khắn; 
Riêng yêu tình cúc trắng trong, 
Chẳng đem hương quý ướp nồng duyên ai.  


Chú thích: 
- Cúc Đường: tên hiệu của Trần Quang Triều. 
- Tấn thư chép: Ngày 9 tháng 9, tướng quân Hoàn Ôn đặt tiệc ở Long Sơn, thuộc hạ và tân khách đến dự. Có thể Nguyễn Ức nhắc tới một cuộc yến hội lớn nào đó do Quang Triều sinh thời tổ chức. 
- Hoa cúc ở giậu Đông (Đông ly cúc): chữ trong thơ Đào Tiềm, dùng tại đây với nghĩa muốn quay về với thú điền viên.




Mar 5, 2014

Động nhiên phong hữu cảm

Tác giả: Nguyễn Ức 阮億
Dịch thơ: Đỗ Quang Liên


洞然峰有感
高臥蒼雲念最深
騎箕去後杳難尋
君王無復他時夢
猿鶴空山夜夜心

Cao ngọa thương vân niệm tối thâm
Kỵ cơ khứ hậu liểu nan tầm
Quân vương vô phục tha thời mộng
Viên hạc không sơn dạ dạ tâm

Dịch nghĩa: 
Cảm xúc khi qua đỉnh Động Nhiên
Nằm cao tận mây xanh, nghĩ rất sâu,
Người cưỡi sao Cơ đi rồi, mờ mịt thật khó tìm;
Giấc mộng nhà vua ngày nào, nay không còn trở lại,
Trên ngọn núi vắng, đêm đêm chỉ còn tấm lòng của vượn, hạc mà thôi.

Dịch thơ: 
Mây thẳm nằm cao, nghĩ rất sâu, 
Sao Cơ người cưỡi, biết tìm đâu? 
Nhà vua mộng cũ sao quay lại, 
Núi vắng, đêm đêm vượn, hạc sầu. 

II 
Nằm cao mây thẳm, nghĩ sâu, 
Sao Cơ người cưỡi, biết đâu mà dò; 
Đâu còn mộng cũ nhà vua, 
Núi không, vượn hạc đêm đêm những buồn. 


Chú thích: 
- Người cưỡi sao Cơ: Sách Trang Tử chép: Phó Duyệt, hiền thần đời Thương, tuy chết nhưng tinh thần vẫn ngời sáng trên sao Cơ, sao Vĩ. 
- Vượn, hạc (viên hạc): sách Bão Phác tử chép: “Chu Mục Vương Nam chinh nhất quân tận hóa quân tử vi viên vi hạc tiểu nhân vi trùng vi sa” nghĩa là Chu Mục Vương đánh phương Nam, toàn quân đều chết cả. Những người quân tử thì biến thành vượn, hạc; những kẻ tiểu nhân thì biến thành sâu, thành cát.





Mar 4, 2014

Bạc chu ứng phong đình ngẫu đề

Tác giả: Nguyễn Ức 阮億
泊舟應豐亭偶題
繫纜江亭覓勝遊
前朝行殿已荒丘
鶯花不識興亡事
撩亂春光未肯休

Hệ lãm giang đình mịch thắng du
Tiền triều hành điện dĩ hoang khâu
Oanh hoa bất thức hưng vong sự
Liêu loạn xuân quang vị khẳng hưu

Dịch nghĩa:
Ðậu thuyền bên đình Ứng Phong, ngẫu hứng đề thơ 
Buộc thuyền cạnh đình bên sông tìm chơi thắng cảnh,
Hành cung triều trước, đã thành gò hoang;
Chim oanh, bông hoa chẳng biết việc hưng phế,
Làm rối nắng xuân mãi chưa thôi.

Dịch thơ: 
Thuyền buộc ven sông, tìm thắng cảnh, 
Triều xưa hành điện mất đâu rồi; 
Oanh, hoa chẳng biết trò hưng phế, 
Quấy rối ngày xuân mãi chửa thôi. 
                                       Đào Phương Bình 

II
Buộc thuyền, thắng cảnh tìm chơi, 
Hành cung triều trước hóa đồi bỏ hoang; 
Oanh, hoa nào biết hưng vong, 
Giỡn đùa, trêu chọc xuân hồng không thôi. 
                                                  Đỗ Quang Liên 


Chú thích:
Đình Ứng Phong ở phủ Nghĩa Hưng, Nam Định. Nhà Lý từng xây hành cung ở đây.




Mar 3, 2014

Điếu đài

Tác giả: Nguyễn Ức 阮億
釣臺
漢鼎鹽梅一縷輕
桐江風月有餘清
羊裘物色無逃處
惹得人間萬古名

Hán đỉnh diêm mai nhất lũ khinh
Đồng giang phong nguyệt hữu dư thanh
Dương cừu vật sắc vô đào xứ
Nhạ đắc nhân gian vạn cổ danh

Dịch nghĩa: 
Chòi câu
Vạc nhà Hán và chuyện muối mơ xem nhẹ hơn một sợi dây, 
Trăng gió trên Đồng Giang thừa sự thanh cao;
Chiếc áo da cừu bị tìm vời không còn nơi lẩn tránh,
Nên buộc phải lưu lại thanh danh muôn thuở ở đời.

Dịch thơ: 
"Muối mơ vạc Hán" nhẹ dường tơ,
Trăng gió Đồng Giang sảng khoái thừa;
Chiếc áo da cừu khôn lẩn tránh,
Đành lưu danh lại với ngàn xưa.
                                   Đào Phương Bình 

II
“Muối mơ, vạc Hán” nhẹ tênh, 
Đồng Giang trăng gió thanh cao có thừa; 
Áo cừu khó tránh – bực chưa, 
Đành lưu danh với ngàn xưa giữa đời. 
Đỗ Quang Liên



Chú thích: 
- Chòi câu (điếu đài): chỉ chòi câu của Nghiêm Quang (Nghiêm Tử Lăng), một ẩn sỹ đời Hán trên sông Đồng Giang, dưới núi Phú Xuân, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc. 
- Theo thiên Duyệt Mệnh trong Kinh Thư thì vào đời Thương, vua Cao Tông nói với hiền thần Phó Duyệt rằng: “Nhược tác hòa canh, nhĩ duy diêm mai”, nghĩa là: nếu để nêm canh, ngươi chính là muối và mơ. 
- Áo da cừu (dương cừu): ngày xưa, người làm quan thường mặc áo da cừu. Bị tìm vời (vật sắc): truyện Nghiêm Quang trong sách Hán thư chép: “Nãi lệnh dĩ vật sắc phỏng chi”, nghĩa là Bèn ra lệnh theo dung mạo mà tìm vời.





Mar 1, 2014

Đồ mi

Tác giả: Nguyễn Ức 阮億 
Dịch thơ: Đỗ Quang Liên

荼蘼
壓架初開三
上陽宮女對愁時
一生不識梅花面
獨殿韶光作後期 

Áp giá sơ khai tam lưỡng chi
Thượng dương cung nữ đối sầu thì
Nhất sinh bất thức mai hoa diện
Độc điến thiều quang tác hậu kỳ

Dịch nghĩa: 
Hoa đồ mi
Vài ba cành mới nở đè lên trên giàn,
Cũng là lúc người cung nữ ở Thượng Dương đang sầu khổ;
Suốt đời chẳng biết mặt hoa mai là gì,
Riêng mình đến muộn, lẽo đẽo theo sau bóng thiều quang.

Dịch thơ: 
Mấy cành mới nở ép trên giàn, 
Đúng lúc sầu đau gái Thượng Dương; 
Cuộc sống, hoa mai đâu chẳng biết, 
Riêng mình lẽo đẽo bóng thiều quang. 

II 
Vài cành mới nở trên giàn, 
Vừa khi cung nữ thở than nỗi sầu, 
Hoa mai chẳng biết là đâu, 
Riêng mình lẽo đẽo đến sau xuân tàn. 



Chú thích: 
- Đồ mi ta quen gọi là Trà mi 
- Đường Huyền Tông say mê Dương Quý Phi, bỏ quên tất cả cung nữ ở Thượng Dương, cung nữ ở đây thở than với nhau về cảnh lỡ làng; Hoa Đồ mi nở vào cuối xuân, đầu hạ, sau khi các hoa khác đã nở, cũng như cung nữ tủi phận, chẳng biết xuân là gì. 
- Nguyễn Ức hiệu Lan Trai, chỉ biết dưới triều vua Trần Minh Tông, từng làm ở viện Hàn lâm và là bạn thân của Trần Quang Triều, có tham gia thi xã Bích Động do Quang Triều sáng lập.