Showing posts with label Lê Trịnh thi. Show all posts
Showing posts with label Lê Trịnh thi. Show all posts

Apr 10, 2015

Kí đệ học tốn thị



Tác giả: Ninh Tốn 寜遜
寄弟學遜氏
康寜一路報君知
步步清風滿翠微
見月在天雲在海
有懷信宿共哦詩

Khang ninh nhất lộ báo quân tri 
Bộ bộ thanh phong mãn thúy vi 
Kiến nguyệt tại thiên vân tại hải 
Hữu hoài tín túc cộng nga thi

Dịch nghĩa:  
Gửi cho em là Học Tốn 
Trên đường bình an, báo cho ông biết, 
Bước đi mỗi bước, gió mát tràn đầy núi non xanh biếc; 
Nhìn thấy trăng trên trời, mây ngoài biển, 
Nhớ lại lúc ở với nhau cùng ngâm thơ.

Dịch thơ: 

Trên đường vui khỏe, báo em hay, 
Mỗi bước non xanh, gió mát đầy; 
Trông nguyệt bầu trời, mây mặt biển, 
Nhớ ngày chung sống, đọc thơ say. 
                                      Đỗ Quang Liên

II 
Anh đi đường, vẫn khang ninh, 
Bước chân, gió mát, non xanh bên người; 
Mải trông mây biển, trăng trời, 
Nhớ khi chung sống, cùng lời thơ ngâm. 
                                               Khương Hữu Dụng





Chú thích: 
Học Tốn: tức là Ngô Thì Chí (?-1788), năm 1788 định chạy theo Lê Chiêu Thống, nhưng bị bệnh chết ở vùng Bắc Giang.





Apr 9, 2015

Thư tứ dương khế tử hồng



Tác giả: Ninh Tốn 寜遜
書賜楊契子洪
梦中相訪十年前
今見君兒淚泫然
有後定知賢者夀
想君死日即生年

Mộng trung tương phỏng thập niên tiền 
Kim kiến quân nhi lệ huyễn nhiên 
Hữu hậu đình tri hiền giả thọ 
Tương quân tử nhật tức sinh niên

Dịch nghĩa:  
Viết cho con bạn Dương là Hồng 
Tìm gặp nhau trong mộng đã mười năm, 
Nay thấy con anh, nhỏ thầm giọt lệ; 
Có người nối dõi, biết chắc người hiền là sống lâu, 
Tưởng anh đã chết như anh còn sống.

Dịch thơ: 

Gặp anh trong mộng mười năm trước, 
Thấy cháu hôm nay, lệ ứa quanh
Có hậu hẳn là hiền lại thọ, 
Tưởng anh lúc chết ấy năm sinh. 
                                               Thạch Can 

II 
Mười năm trong mộng tìm nhau,
Con anh nay gặp, lệ đau nhỏ thầm; 
Có con, trời thọ người hiền, 
Tưởng anh đã chết như anh đang còn. 
                                           Đỗ Quang Liên 





Chú thích: 
Bạn Dương: tức Dương Nguyễn Huống, đỗ Tiến sỹ năm Cảnh hưng 33 (trước Ngô Thì Nhậm 3 năm) làm Hiến sát sứ Hải Dương, chết năm 32 tuổi. Con là Dương Nguyên Hồng, mồ côi từ lúc 3 tuổi, nhờ có bạn đồng khoa với cha nhận về nuôi, lúc này Hồng khoảng 12, 13 tuổi.






Apr 8, 2015

Đinh hoàng sơn miếu



Tác giả: Ninh Tốn 寜遜 (1743-?)
丁皇山廟
勁氣雄心括海山
廟留遺像五雲端
臨題追憶當年事
千載猶開墨客顏

Kính khí hùng tâm quát hải sơn 
Miếu lưu di tượngngũ vân đoan 
Lâm đề truy ức đương niên sự 
Thiên tải do khai mặc khách nhan

Dịch nghĩa:  
Miếu vua Đinh trên núi  
Khí tiết cứng mạnh,lòng hào hùng bao quát cả núi biển, 
Núi còn để lại pho tượng ở chỗ mây năm sắc; 
Lúc đề thơ, nhớ lại việc thưở ấy, 
Nghìn năm còn mở mặt với khách văn chương.

Dịch thơ: Ngô Văn Phú

I  
Chí khí cao vời trùm núi sông,  
Miếu lưu tượng cũ sắc mây trùm; 
Đề thơ nhớ lại chuyện năm ấy, 
Rạng mặt làng văn mãi mãi còn. 

Dịch thơ: Đỗ Quang Liên 

II 
Cao với chí khí trùm núi sông, 
Tượng cũ trong mây giữa miếu đường; 
Lên núi đề thơ ôn thuở trước, 
Ngàn năm rạng mặt khách văn chương. 

III 
Tượng thờ giữa miếu ngang mây, 
Tâm hùng tiết cứng tràn đầy núi sông; 
Đề thơ nhớ thuở hào hùng, 
Rạng danh cho khách văn chương ngàn đời. 

IV 
Hùng tâm trùm cả núi sông, 
Tượng xưa ngự giữa miếu đường trong mây; 
Đề thơ nhớ thuở trước đây, 
Ngàn năm rạng rỡ mặt mày khách văn.





Chú thích: 
- Đinh Tốn tên chữ là Khiêm Như, Hà Chi, hiệu Mẫn Hiên, Chuyết Sơn cưu sĩ, quê Côi Trì, Yên Mô, Ninh Bình, đỗ Hương cống năm 19 tuổi, làm quan thời chúa Trịnh Sâm, soạn Quốc sử. Sau này ông đỗ Tiến sỹ, thăng Công bộ tả thị lang, sau lại làm quan với nhà Tây Sơn đến chức Thượng thư bộ binh. Tác phẩm: Chuyết Sơn thi tập, Tây Bộ mạn hứng. 
- Miếu thờ vua Đinh: ở xã Phúc Lai, Ý Yên, Nam Định (chú của tác giả).





Apr 7, 2015

525. Vô đề



Tác giả: Lê Hữu Trác 黎有琢 (1720-1791)
無題
無藥可醫卿相命
有心應對鬼神知
世間惟有芳名在
富貴浮雲本自欺

dược khả y khanh tướng mệnh  
Hữu tâm ứng đối quỷ thần tri 
 Thế gian duy hữu phương danh tại  
Phú quý phù vân bản tự khi

Dịch nghĩa:  
Không đề 
Không có thuốc chữa được mệnh cho khanh tướng, 
Lòng này chỉ có quỷ thần biết; 
Ở đời chỉ có tiếng thơm lưu mãi, 
Giầu sang như mây nổi tự dối lòng.

Dịch thơ: Ngô Văn Phú 

Không có thuốc chữa cho mệnh khanh tướng,
Quỷ thần chứng giám tấm lòng ta; 
Tiếng thơm là thứ đời lưu lại, 
Mây nổi giàu sang, tự dối mà! 

Dịch thơ: Đỗ Quang Liên 

II 
Thuốc đâu chữa bệnh tướng, khanh, 
Tấm lòng ta có quỷ thần biết cho; 
Đời lưu lại tiếng thơm tho, 
Giàu sang mây nổi, vốn lo dối mình. 

III 
Chữa sao nổi mệnh công khanh, 
Lòng lành đã có thần minh tỏ tường; 
Trên đời còn lại tiếng thơm,
Giàu sang mây nổi ta thường xem khinh!





Chú thích: 
Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng lãn ông, người làng Liêu Xá, Cẩm Giàng (nay là Yên Mỹ), Hải Dương. Con gia đình quan lại, có theo đòi kinh sử, học tập binh thư, sung vào quân đội chúa Trịnh. Sau về quê mẹ ở Hương Sơn làm thuốc, từng được vời về Kinh chữa bệnh cho cha, con Trịnh Sâm, Trịnh Cán. 
Tác phẩm: Y tông tâm lĩnh, Dương án, Âm án, Thượng kinh ký sự, …