Showing posts with label Lê Quát. Show all posts
Showing posts with label Lê Quát. Show all posts

Mar 29, 2014

Thư hoài kỳ nhị

Tác giả: Lê Quát 黎适
書懷其二
年來世事與心違
日望家山賦式微
水國天寒驚歲暮
木蘭花老雨霏霏

Niên lai thế sự dữ tâm vi 
Nhật vọng gia sơn phú thức vi 
Thuỷ quốc thiên hàn kinh tuế mộ 
Mộc lan hoa lão vũ phi phi

Dịch nghĩa: 
Nỗi lòng (bài 2) 
Mấy năm nay, việc đời trái với lòng, 
Ngày ngày trông về quê hương, đọc thơ Thức vi; 
Nơi sông nước, trời trở lạnh, giật mình năm sắp hết, 
Hoa mộc lan tàn héo dưới mưa bay.

Dịch thơ: 
Đỗ Quang Liên 

I 
Việc đời thường trái ý lâu nay, 
Trông ngóng quê hương lạnh tháng ngày; 
Trời rét, giật mình, năm sắp hết, 
Mộc lan tàn héo dưới mưa bay. 

II 
Việc đời trái ý bấy nay, 
Trông về núi cũ, mong ngày lại quê; 
Hết năm, trời nước tái tê, 
Mộc lan tàn rũ lê thê mưa buồn.


Chú thích: 
Thức vi: Tên một bài thơ trong thiên Quốc Phong,  Kinh Thi nói lên tâm trạng người lưu lạc, chỉ muốn về quê nhà.






Mar 28, 2014

265. Thư hoài kỳ nhất

Tác giả: Lê Quát 黎适
書懷其一
事務如毛病復閒
乾坤萬變靜中看
雙梅橋畔秋風老
無數黃花映藥欗

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn 
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan 
Song mai kiều bạn thu phong lão 
Vô số hoàng hoa ánh dược lan

Dịch nghĩa: 
Nỗi lòng (bài 1) 
Công việc bộn bề, ốm thành ra nhàn, 
Trong yên tĩnh, ngồi nhìn biến đổi của trời đất; 
Bên cầu Song Mai, gió cuối thu, 
Mầu vàng của vô số hoa cúc ánh vào lan can.

Dịch thơ: 
Đỗ Quang Liên 

I 
Bộn bề công việc, ốm thành nhàn, 
Trời đất đổi thay, tĩnh lặng xem; 
Thu muộn, Song Mai cầu gió lộng, 
Màu vàng hoa cúc ánh lan can. 

II 
Việc bừa bộn, ốm được nhàn, 
Đất trời muôn vẻ, lặng xem đổi dời; 
Cuối thu, gió lộng Song Mai, 
Bao nhiêu hoa cúc ánh ngoài giậu bên.







Mar 27, 2014

Tống phạm công sư mạnh bắc sứ

Tác giả: Lê Quát 黎适
送范公師孟北使
驛路三千君據安
海門十二我還山
朝中使者天邊客
君得功名我得閒

Dịch lộ tam thiên quân cứ an 
Hải môn thập nhị ngã hoàn san 
Triều trung sứ giả, thiên biên khách 
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn

Dịch nghĩa: 
Tiễn Phạm Sư Mạnh đi sức phương Bắc 
Qua ba nghìn dặm đường đi sứ, bác ngồi trên yên,
Vượt mười hai cửa biển, tôi trở về núi;
Kẻ sứ giả của triều đình, kẻ nơi chân trời,
Bác được công danh, tôi được chữ nhàn.

Dịch thơ: 
I 
Người tựa trên yên trải dặm ngàn, 
Kẻ về cửa bể cách quan san; 
Sứ thần, dật khách nào hơn kém, 
Ông được công danh, lão được nhàn. 
                                       Đinh Văn Chấp 

II 
Ba ngàn dặm ngựa, bác đi, 
Mười hai cửa biển, tôi về núi sâu; 
Bác Sứ giả, tôi khách du, 
Bác theo sự nghiệp, tôi ưa thanh nhàn. 
                                                 Đỗ Quang Liên 



Chú thích: 
- Lê Quát, tự là Bá Quát, hiệu Mai Phong,  dòng dõi Lê Văn Thịnh, người huyện Đông Sơn (phía Tây Bắc thành phố Thanh Hóa ngày nay, là một học trò xuất sắc của Chu An, đỗ Thái học sinh, làm quan dưới triều vua Trần Minh Tông. Triều vua Trần Dụ Tông (1358) làm Tả tư lang kiêm Hàn lâm viện phụng chỉ, sau thăng làm Thượng thư Hữu bộc xạ. Năm 1366, ông đi kiểm tra sổ sách tài chính ở Thanh Hoá, và được thăng chức Thượng thư Hữu bật nhập nội hành khiển. Lê Quát nổi tiếng văn chương, cùng Phạm Sư Mạnh muốn thay đổi không khí học thuật đương thời, bằng cách đề cao đạo Nho, bài xích đạo Phật. 
- Theo Đại Việt sử ký toàn thư, bài thơ này Lê Quát làm khi còn trẻ.