Showing posts with label Hoa Bằng. Show all posts
Showing posts with label Hoa Bằng. Show all posts

Apr 5, 2015

Thành đông cư



Tác giả: Đặng Minh Bích 鄧明碧
城東居
歸得城東地一弓
市喧不到此湖中
可人詩思年年有
月下梅敲竹裡風

Quy đắc thành đông địa nhất cung
Thị huyên bất đáo thử hồ trung 
Khả nhân thời tứ niên niên hữu 
Nguyệt hạ mai xao trúc lý phong

Dịch nghĩa:  
Nhà ở phía Đông thành 
Có được một mảnh đất phía Đông thành, 
Sự ồn ào của phố xá không đến được trong hồ; 
Khá thay tứ thơ luôn luôn vẫn có,
Dưới trăng, cành mai xao động, gió qua khóm trúc.

Dịch thơ: 

Ở phía Đông thành, đất một khoanh, 
Ồn ào đâu tới chốn hồ xanh; 
Cũng may năm tháng, thơ còn tứ, 
Mai ngát, trăng thanh, trúc động cành. 
                                             Ngô Văn Phú 

II 
Còn một mảnh đất thành Đông, 
Ồn ào phố xá, riêng lòng lâng lâng; 
Ý thơ ngày tháng ung dung, 
Mai lồng trăng rọi, trúc mừng gió đưa. 
                                                          Hoa Bằng 

III 
Trở về mảnh đất thành Đông, 
Ồn ào phố chợ chẳng vương mặt hồ; 
Năm năm dào dạt tứ thơ, 
Mai vờn ánh nguyệt, gió lùa khóm tre. 
                                                    Đỗ Quang Liên 





Chú thích: 
Đặng Minh Bích quê làng Bạch Đường, huyện Nam Đàn, Nghệ An, đỗ Tiến sỹ năm 1484, đời Lê.






Jan 17, 2014

215. Hóa Châu tác

Tác giả: Trương Hán Siêu 張漢超
化州作
玉京回首五雲深
零落殘生苦不禁
已辨荒郊埋病骨
海天草木共愁吟 

Ngọc kinh hồi thủ ngũ vân thâm
Linh lạc tàn sinh khổ bất câm
Dĩ biện hoang giao mai bệnh cốt
Hải thiên thảo mộc cộng sầu ngâm


Dịch nghĩa: 
Thơ làm ở Hóa Châu
Ngoảnh đầu lại Ngọc Kinh, năm mây thăm thẳm,
Kiếp sống tàn điêu linh xơ xác, khổ không chịu nổi;
Đã sửa soạn chốn hoang vu để chôn vùi nắm xương ốm yếu,
Cỏ cây nơi trời biển xa xôi cùng ta ngâm thơ sầu.

Dịch thơ: 
Ngoảnh lại năm mây phủ đế đô,
Hồn tàn bao xiết khổ bơ vơ;
Thôi đành cõi rậm vùi xương bệnh,
Cây cỏ chung sầu cũng hoạ thơ. 
                                            Hoa Bằng

II 
Ngoảnh đầu mây chắn đế đô, 
Lênh đênh nỗi khổ bơ vơ không lường; 
Thân tàn cõi rậm vùi xương, 
Cỏ cây, trời biển ngâm chung thơ sầu. 
                                                        Đỗ Quang Liên 


Chú thích: 
Việt âm thi tập chú: Lúc đó ông làm chức Chiêu dụ đại sứ Hóa Châu, nay là đất thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế. Có thể xác định đây là bài thơ của Trương Hán Siêu làm trong những ngày cuối ở Hóa Châu, giữa một cơn bệnh nặng, sau đó ông được lệnh trở ra Bắc, rồi mất.



Apr 18, 2013

Sắc không

Tác giả: Lê Thị Ỷ Lan (?-1117) 黎氏倚蘭


色空
色是空空即色
空是色色即空
色空俱不管
方得契真宗

Sắc thị không không tức sắc
Không thị sắc sắc tức không
Sắc không câu bất quản 
Phương đắc khế chân tông

Dịch nghĩa: 
Sắc và Không 
Sắc là không, không tức là sắc, 
Không là sắc, sắc tức là không. 
Sắc, Không đều chẳng vấn vương, 
Thì mới khế hợp được với chân tông.

Dịch thơ: 
Sắc là Không, Không tức Sắc, 
Không là Sắc, Sắc tức Không; 
Sắc, Không đều chẳng quản, 
Mới khế hợp chân tông. 
                                     Hoa Bằng 

II 
Không tức là Sắc, Sắc là Không, 
Không là Sắc, Sắc tức Không đó mà; 
Sắc, Không đều chẳng quản chi, 
Mới hay khế hợp, mới là chân tông. 
                                           Đỗ Quang Liên

Chú thích: 
Ỷ Lan người hương Thổ Lỗi, lộ Bắc Giang (sau đổi là hương Siêu Loại, nay thuộc Hà Bắc). Vua Lý Thánh Tông (1054-1072) tuần du Thổ Lỗi, gặp bà dựa vào cây lan mà hát, không xem xa giá. Vua vời hỏi, sau đón vào cung, lập làm phu nhân, đặt hiệu Ỷ Lan, rồi phong là Linh Nhân. 


Với cương vị Nguyên phi, bà đã thay vua Lý Thánh Tông lo  nội trị trong khi vua đi đánh Chiêm Thành (1069). 

Bài này bà làm sau khi đàm đạo với Đại Sư Thông Biện về tôn chỉ đạo Thiền.