Showing posts with label Hoàng Việt thi văn tuyển. Show all posts
Showing posts with label Hoàng Việt thi văn tuyển. Show all posts

Apr 8, 2014

Bất mị

Tác giả: Trần Nguyên Đán 陳元旦

不寐
官舍秋霜漏轉遲
故園松菊在天涯
目前盡是關心事
病愈不如猶病時

Quan xá thu sương lậu chuyển trì 
Cổ viên tùng cúc tại thiên nhi (nhai) 
Mục tiền tân thị quan tâm sự 
Bệnh dũ bất như do bệnh thì

Dịch nghĩa: 
Không ngủ
Chốn làm việc quan, trong sương thu, giọt đồng hồ nhỏ chậm, 
Tùng cúc nơi vườn cũ ở tận chân trời xa; 
Trước mắt toàn là những việc phải quan tâm, 
Bệnh khỏi không bằng khi còn bệnh.

Dịch thơ: 
Quan xá sương thu chậm khắc canh,
Cúc tùng vườn cũ góc trời xanh; 
Ngó ra rảnh việc lòng đeo đuổi, 
Thà bệnh còn hơn lúc bệnh lành. 
                         Hoàng Việt thi văn tuyển 

II 
Đêm thu thời khắc chậm trôi, 
Vườn xưa tùng cúc cách vời chân mây; 
Việc đời trước mắt ngập đầy, 
Khỏi đau chẳng được như ngày còn đau.
                                                      Đỗ Quang Liên 




Chú thích: 
Giọt đồng hồ (lậu): ngày xưa, người ta dùng cái hồ bằng đồng, đáy có khoan lỗ nhỏ, giữa hồ dựng một cái cột nhỏ ghi 100 khắc. Đổ nước vào hồ, nước nhỏ giọt, nước vơi đến đâu, số khắc ghi ở cột lộ ra đến đấy. Căn cứ vào đó mà đánh giờ khắc. Ở đây, tác giả buồn, tưởng như giọt đồng hồ rỏ chậm lại.




Apr 4, 2014

Dạ quy chu trung tác

Tác giả: Trần Nguyên Đán 陳元旦

夜歸舟中作
萬國民生沸鼎魚
朔燕東汴已邱墟
歸舟未穩江湖梦
分取漁燈照古書

Vạn quốc dân sinh phí đỉnh ngư 
Sóc yên đông biện dĩ khâu khư 
Quy chu vị ổn giang hồ mộng 
Phân thủ ngư đăng chiếu cổ thư

Dịch nghĩa: 
Thơ làm trong lúc ban đêm đi thuyền về 
Nhân dân muôn nước như cá trong vạc nước sôi, 
Đất Yên phương Bắc, đất Biện phương Đông đã thành gò đống; 
Trên chiếc thuyền về, chưa yên giấc mộng giang hồ, 
Muợn ánh đèn thuyền chài soi đọc cuốn sách cổ.

Dịch thơ: 
Muôn nước dân sinh cá vạc sôi, 
Biện Đông Yên Bắc tả tơi rồi; 
Thuyền về trằn trọc khôn yên giấc, 
Mượn ánh đèn chài dở sách coi.
                                       Hoàng Việt thi văn tuyển 


II 
Muôn dân đói khổ khốn cùng, 
Biện đông, Yên bắc ruộng đồng hoang vu; 
Quay thuyền vương mộng giang hồ, 
Đèn chài, mượn đọc sách xưa giải sầu. 
                                              Đỗ Quang Liên 


Chú thích: 
Yên: tức Yên Kinh, nay là thành phố Bắc Kinh; Biện: tức là Biện Kinh, nay là thành phố Khai Phong (bên Trung Quốc). Yên, Biện là hai kinh đô thời nhà Tống. Trong bài thơ này, tác giả muốn nói tình hình rối loạn của nhà Trần lúc bấy giờ.



Mar 12, 2014

Linh sơn tạp hứng

Tác giả: Chu Văn An 朱文安
靈山雜興
萬疊青山簇畫屏
斜陽淡抹半溪明
翠蘿徑裏無人到
山鵲啼煙時一聲

Vạn điệp thanh sơn thốc họa bình
Tà dương đạm mạt bán khê minh
Thuý la kính lý vô nhân đáo
Sơn thước đề yên thời nhất thanh

Dịch nghĩa: 
Tạp hứng ở Linh sơn 
Muốn lớp núi xanh tụ lại như bức bình phong vẽ, 
Bóng chiều nhạt dọi tới sáng nửa lòng khe; 
Trong lối cỏ biếc, không người đến, 
Thỉnh thoảng một tiếng chim thước kêu trong khói mù.

Dịch thơ: 
I
Núi xanh muôn lớp họa bình che, 
Ác xế soi lên rạng nửa khe; 
Bụi rậm đường sâu người vắng vẻ, 
Trong mây chim thước gọi le the. 
                   Bản dịch Hoàng Việt thi văn tuyển 

II 
Họa bình, muôn lớp núi xanh, 
Nửa dòng khe sáng chênh chênh ánh tà; 
Lối mòn, không kẻ lại qua, 
Khói vương, thảng thốt một và tiếng chim. 
                                                         Đỗ Quang Liên 



Chú thích: 
- Câu 2 “”đạm mạt” có sách ghi là “quải đảo” nghĩa là treo ngược. 
- Chu Văn An (?-1370) hiệu là Tiều Ẩn, tên chữ là Linh Triệt, tên thụy là Văn Trinh, người làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Ðàm, nay là huyện Thanh Trì, Hà Nội. Sau khi đậu Thái học sinh, ông ở nhà dạy học. Đời vua Trần Minh Tông ông mới nhận chức Quốc Tử Giám Tư nghiệp, dạy cho thái tử. Ðời vua Trần Dụ Tông (1341-1369), Chu Văn An dâng sớ xin chém bảy nịnh thần, vua không nghe. Ông từ chức, ở ẩn tại núi Phượng Hoàng, làng Kiệt Ðặc, huyện Chí Linh. 
Tác phẩm: Tiều ẩn thi tập, Tiều ẩn quốc ngữ thi tập, Tứ thư thuyết ước. Nhưng chỉ còn 12 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục.