Showing posts with label Vũ Thế Trung. Show all posts
Showing posts with label Vũ Thế Trung. Show all posts

Apr 29, 2014

Lan cốc kỳ tứ

Tác giả: Vũ Thế Trung 武世忠

蘭谷其四
風傳花氣遶浮溪
矮矮遮香野老籬
春滿山雲初過雨
一爐柏子讀騷詞

Phong truyền hoa khí nhiễu phù khê 
Oải oải già hương dã lão ly 
Xuân mãn sơn vân sơ quá vũ 
Nhất lô bách tử độc tao từ

Dịch nghĩa: 
Lan trong núi (bài 4) 
Gió đưa mùi hoa phảng phất quanh khe cạn, 
Hương thơm bay là là phủ lên bờ giậu của ông già đồng quê; 
Xuân đầy mây núi, mưa vừa tạnh, 
Đốt một lò quả thông, đọc khúc Ly Tao.

Dịch thơ: Đỗ Quang Liên 

Mùi hoa gió thoảng quanh khe cạn, 
Phủ giậu già quê hương ngạt ngào 
Mây núi tràn xuân, mưa mới tạnh, 
Đốt lò quả bách, đọc Ly Tao. 

II 
Mùi hương gió thoảng quanh khe, 
Là là bờ giậu cụ già đồng quê; 
Xuân đầy mây núi, tạnh mưa, 
Ly Tao ngâm ngợi trước lò quả thông.


Chú thích: Tao từ: tức Ly Tao, một tác phẩm nổi tiếng của Khuất Nguyên



Apr 28, 2014

Lan cốc kỳ tam

Tác giả: Vũ Thế Trung 武世

蘭谷其三
謝砌春遲遶幾回
一芽露綻碧初開
欲知高潔無塵處
嚴子秋風坐釣臺

Tạ thiết xuân trì nhiễu kỷ hồi 
Nhất nha lộ trán bích sơ khai 
Dục tri cao khiết vô trần xứ 
Nghiêm tử thu phong tọa điếu đài

Dịch nghĩa: 
Lan trong núi (bài 3) 
Xuân muộn mấy lần lượn quanh thềm nhà họ Tạ, 
Một búp non vừa nhú, mầu biếc mở đầu; 
Muốn biết chỗ cao khiết không bụi bặm, 
Xin tới đài câu trong gió thu của Nghiêm Tử.

Dịch thơ: Đỗ Quang Liên 

Cuối xuân mấy lượt quanh thềm Tạ, 
Búp biếc, non tơ nhú mở đầu; 
Muốn biết thanh cao không bụi bặm, 
Gió thu, Nghiêm Tử chốn đài câu. 

II 
Cuối xuân thềm Tạ lượn quanh, 
Búp non vừa nhú, mầu xanh mở đầu; 
Muốn tìm nơi sống thanh cao, 
Hỏi thăm Nghiêm Tử nơi nào đài câu.


Chú thích: 
Nghiêm Tử: tức Nghiêm Quang, tự Tử Lăng, bạn đồng học với Lưu Tú, Khi Lưu Tú lên ngôi vua (tức Hán Quang Vũ), Tử Lăng đi ở ẩn ở núi Phú Xuân, thường ngồi câu cá ở sông Đồng Giang. Về sau chỗ Tử Lăng ngồi câu gọi là Tử lăng điếu đài.


Apr 25, 2014

Lan cốc kỳ nhị

Tác giả: Vũ Thế Trung 武世忠

蘭谷其二
沙石年深細吐花
清於松月淡於茶
朝庭欲識花中隱
休說王家與謝家

Sa thạch niên thâm tế thổ hoa 
Thanh ư tùng nguyệt đạm ư trà 
Triều đình dục thức hoa trung ẩn 
Hưu thuyết vương gia dữ tạ gia

Dịch nghĩa:  
Lan trong núi (bài 2) 
Sống lâu năm ở nơi cát sỏi, hé nở nụ hoa, 
Trong hơn ánh trăng trên ngọn thông, thanh đạm hơn trà; 
Triều đình muốn biết hoa ở ẩn trong các loài hoa, 
Xin đừng nhắc đến nhà họ Vương và nhà họ Tạ.

Dịch thơ: Đỗ Quang Liên 

Giữa cát lâu năm hé nụ hoa, 
Trong hơn trăng sáng, đượm hơn trà; 
Triều đình muốn biết loài hoa ẩn, 
Vương, Tạ hai nhà chớ đặt ra. 

II 
Từ trong cát sỏi nở hoa, 
Hơn trăng ánh bạc, hơn trà mùi thanh; 
Loài hoa riêng tự náu mình, 
Họ Vương, họ Tạ thanh danh hơn nào.


Chú thích: 
Nhà họ Vương, họ Tạ (vương gia dữ tạ gia): hai nhà quý tộc nổi tiếng phong lưu, phú quý ở đời nhà Tấn, Trung Quốc. Nhắc đến hai nhà này, tác giả muốn nói phẩm chất những người ở ẩn còn cao quý hơn cả sự giàu sang của nhà họ vương và nhà họ Tạ.

Apr 24, 2014

285. Lan cốc kỳ nhất

Tác giả: Vũ Thế Trung 武世忠

蘭谷其一
豈論北里與東園
稚卉風荄競綠繁
千古湘纍呼不起
強賡楚些慰香魂

Khởi luân bắc lý dữ đông viên 
Trĩ huỷ phong cai cạnh lục phồn 
Thiên cổ tương luy hô bất khởi 
Cưỡng canh sở tá uý hương hồn

Dịch nghĩa: 
Lan trong núi (bài 1) 
Chẳng cứ là ở xóm Bắc hay vườn Đông, 
Cỏ non cây mát đua nhau xanh tốt; 
Nghìn năm oan hồn sông Tương, gọi chẳng được, 
Gượng ngâm bài Sở Tá để an ủi hương hồn.

Dịch thơ: Đỗ Quang Liên 

Cứ gì xóm Bắc với vườn Đông, 
Cây cỏ đua nhau mọc tốt rờn; 
Ngàn thuở sông Tương oan chẳng rửa, 
Gượng ngâm Sở Tá gửi hương hồn. 

II 
Chẳng riêng xóm Bắc, vườn Đông, 
Cỏ non, cây mát xanh rờn ganh đua; 
Sông Tương ngàn thuở chẳng thưa, 
Gượng ngâm Sở Tá gửi về hồn oan.


Chú thích: 
- Chỉ biết Vũ Thế Trung làm quan cuối đời Trần, còn quê quán và ngày sinh, ngày mất đều chưa rõ. Tác phẩm còn 4 bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục. 
- Oan hồn sông Tương (Tương luy): chỉ Khuất Nguyên, nhà thơ yêu nước thời Chiến Quốc,bị Sở Hoài Vương kết tội oan nên tự trầm ở sông Mịch La, huyện Tương Âm, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Khuất Nguyên thích hoa lan, tác giả làm bài thơ này ngụ ý nhớ tới Khuất Nguyên. 
- Sở Tá: bài Chiêu hồn trong Sở Từ, cứ cuối mỗi câu lại đệm chữ “Tá”, vì vậy bài này cũng được gọi là Sở Tá. Về sau hai chữ Sở Tá chỉ việc chiêu hồn người đã mất.