Showing posts with label Nghi vấn văn học. Show all posts
Showing posts with label Nghi vấn văn học. Show all posts

Aug 2, 2013

Đề nghị đính chính quyển Việt sử lược




Chúng tôi, Tổ Hán Nôm Lạc Đạo, đưa quyển Việt sử lược (do Trần Quốc Vượng phiên âm và chú giải, Đinh Khắc Thuân đối chiếu, chỉnh lý; Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nhà xuất bản Thuận Hóa, trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây phát hành tháng 9 năm 2005) ra trao đổi, học tập, đã phát hiện thấy nhiều chỗ sai sót, chỉ xin nêu mấy chỗ sai lớn (và hơi khó hiểu!) như sau:

1. Chữ Việt trang 26, phiên dịch từ chữ Hán trang 239:
…Giả phụ lai vãn, sử ngã tiên phản; Kim tiến thanh bình, lại bất cảm phạn
Được dịch là: “Cha Giả tới muộn, khiến ta phản trước; Nay thấy thanh bình, lại chẳng ăn được”. 
Lẽ ra phải phiên âm là: “… cánh bất cảm phản” và phải dịch là: Cha Giả tới muộn, khiến ta làm phản; Nay thấy thanh bình, bèn không dám phản.

Người dịch có thể đã căn cứ vào phiên âm sai.

2. Chữ Việt trang 97 dịch từ chữ hán trang 331:
“… hạ ngũ nguyệt, vương yến quần thần ư Chiêm thành vương điện, hựu quan vũ thuẫn, kích cầu ư kỳ giai…”
được dịch là: “…Vua đãi yến quần thần tại điện vua Chiêm thành, vua lại thân hành múa khiên (mộc) và đánh cầu ở thềm điện…”.
Lẽ ra phải dịch là: “…Vua lại xem múa khiên …”.
Không phải là Thân hành, người dịch nhầm chữ Quan ra chữ Thân

3. Chữ Hán trang 452 in đúng nguyên như trang 434, bắt đầu từ các chữ: “… vương đại nộ (王大怒)  đến Tương trụy (將墜)”, thiếu hẳn nội dung chữ Hán của trang này (trang 452) để dịch ra chữ Việt, từ cuối trang 193 đến giữa trang 194 “…trời sáng, gặp tướng của Tự Khánh ... đến Tướng là Đỗ Tế chạy về…”.

Chúng tôi đề nghị nhà xuất bản, các cơ quan liên quan, những người có trách nhiệm đăng bản Đính chính những chỗ sai và in lên báo tờ chữ Hán (trang 452) đã in nhầm, để bạn đọc tự đính chính, bổ sung vào sách Việt sử lược đã có.

Xin trân trọng cảm ơn!

Đỗ Quang Liên
Tổ trưởng


Jul 22, 2013

Lưu biệt thi

Tác giả: Nguyên sứ Hoàng Thường 元使黄裳
留別詩 
江岸梅花正白
船頭細雨斜飛
行客三冬北去
將君一棹南歸

Giang ngạn mai hoa chính bạch 
Thuyền đầu tế vũ tà phi 
Hành khách tam đông Bắc khứ 
Tướng quân nhất trạo Nam quy

Dịch nghĩa:
Thơ lưu biệt 
Trên bờ sông hoa mai đang nở trắng,
Trước đầu thuyền mưa nhỏ chênh chếch bay;
Giữa ba đông khách đi về Bắc,
Một mái chèo Tướng quân trở lại Nam.

Dịch thơ: Đỗ Quang Liên
I
Trên bến, hoa mai đua trắng, 
Đầu thuyền, mưa bụi tạt ngang; 
Hành khách ba người về Bắc, 
Tướng quân một mái quay Nam. 

II 
Bên bờ trắng xóa hoa mai, 
Xiên xiên mưa bụi bay bay đầu thuyền; 
Khách về đất Bắc ngoái nhìn, 
Tướng quân với một con thuyền về Nam.

Nghi vấn:
Sách Nam Ông mộng lục 南翁夢錄 của Hồ Nguyên Trừng do Ưu Đàm, La Sơn soạn dịch, chú giải. Nguyễn Đăng Na giới thiệu, nhà xuất bản Hà Nội 1999 ghi: Mạc Ký đã làm bài thơ Lưu biệt trên. Quyển Thơ văn Lý Trần tập II, chủ biên Nguyễn Huệ Chi, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Văn học, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội năm 1988 ghi ở trang 719 cũng như vậy (chỉ khác chữ (Đông) thành (Danh) và chú thích: Đầu đề 送使吟 (Tống sứ ngâm) do người soạn thêm, và rút từ sách Nam Ông mộng lục.

Hai quyển sách trên dịch đều nhầm vì bản chữ Hán không có dấu chấm, phẩy, từ đoạn 裳其歡之。至界,上留別詩云 người phiên dịch đã thêm dấu Chấm sau chữ 歡之 và viết hoa chữ và dịch là: “Khi tới biên giới, Mạc Ký đã làm bài thơ Lưu biệt như sau” (Người được tặng thơ hóa thành người làm thơ tặng)

Có một điều rất lạ là Thơ văn Lý Trần tập III, NXB Khoa học xã hội 1978 (trước tập II 10 năm), ở trang 738, tác giả Tuấn Nghi dịch bài "Quý khách tương hoan" vẫn chấm câu như thế, và dịch thì ghi: “”Đến biên giới, có thơ lưu biệt rằng”

Tôi, Đỗ Quang Liên, người đã dịch trên 1000 bài thơ Tứ tuyệt ra lục bát, xin chữa lại là:
“Thường rất vui thích, đến biên giới, Thường làm thơ lưu biệt rằng”

Tôi đặt đầu đề là Lưu biệt thi và tác giả là Nguyên sứ Hoàng Thường.