Showing posts with label Luận. Show all posts
Showing posts with label Luận. Show all posts

May 16, 2013

Mấy vấn đề về gia tộc



Tổ chức việc họ và cách ghi chép gia phả

Con người, ai cũng có bố, mẹ (có thể không có vợ, chồng, con, cháu nhưng không thể không có bố mẹ).
Cao
tổ
Tằng
tổ
Tổ
Khảo, Tỷ
Bản thân
Tử
Tôn
Tằng tôn
Huyền tôn
Kỵ (Can)
Cụ
(Cố)
Ông bà
Bố mẹ
Vợ hoặc chồng
Con
Cháu
Chắt
Chút

Như vậy là Chín đời (cửu đại).
Mỗi người đều có họ của mình (tức họ Bố); họ Mẹ; họ của vợ hoặc chồng, thế là Ba họ (tam tộc).
Mỗi người đều thờ cúng, giỗ, Tết đến 5 đời trở lên tức là: bố mẹ, ông bà, cụ, kỵ.
Mỗi vị đều có thần chủ, khi cúng, khấn từng vị gồm: tên húy, tên tự, tên hiệu, tên thụy, giờ sinh, giờ mất, nơi mất, phần mộ (nguyên táng, cát táng, di táng), học vị, chức vụ, phẩm hàm.
Qua 5 đời trở lên thì không khấn riêng, mà khi cúng, khấn chung là tiên tổ và cất thần chủ đi, không bày trên ban thờ nữa. Như thế gọi là “Ngũ đại mai thần chủ” (qua 5 đời thì cất hoặc chôn thần chủ đi).

Từ một cặp vợ chồng (hoặc xưa các cụ có nhiều vợ) sinh con đẻ cháu, các con trai, con dâu, cháu trai, cháu dâu, … ở chung một nhà gọi là Đồng đường. Ngày trước, mỗi thế hệ cách nhau khoảng 25 năm, có thể có đến Ngũ đại đồng đường (5 đời trở xuống). Ngày nay, do thường lấy vợ muộn, đẻ con muộn, mỗi thế hệ kéo dài khoảng 30 năm, nên thường chỉ có Tam đại đồng đường, đó là Đại gia đình (gia đình lớn). Còn một cặp vợ chồng ở với nhau gọi là Gia đình hạt nhân.
Nếu ở riêng sân, riêng bếp thì có tự do cá nhân cao; Ở chung, ăn chung thì sự hỗ trợ nhau lớn; nếu ở sát gần thì sự hỗ trợ nhau thuận tiện, (đặc biệt phải biết Nhẫn , trăm chữ Nhẫn 百忍). Bây giờ nhiều gia đình con trai con dâu, con gái con rể cũng ở chung, ở gần nhau.

Từ một người thành một nhà (gia đình); rồi nhiều người, nhiều đời thành một họ (tộc, gia tộc) trở nên một cộng đồng, đòi hỏi phải có 4 việc lớn.
1. Mồ mả: (Trước đây đặc biệt quan trọng, vì tin vào phong thủy, nay quy tập vào một vùng hoặc hỏa táng, tro xương đựng vào lọ) phải giữ được mả tổ, tu tạo đường hoàng, mỗi năm chạp mộ một lần. Mỗi chi đều có phần mộ tổ chi.
2. Nhà thờ: là nơi thờ cúng tổ tiên, hội họp trong họ, đặt bia các cụ hậu và các vị có công lao với họ, có đóng góp với làng nước, làm rạng danh cho dòng họ. Nhà thờ phải được tu tạo đường hoàng. Nên có tủ sách để tư liệu dòng họ. Có thể có nhà thờ từng chi.
3. Tộc phả: là sách ghi chép các đời, các biến động trong dòng họ. Những họ lớn, có người làm tới chức vụ to hoặc là tác gia lớn còn có những sách ghi chép riêng về những việc làm và tác phẩm của họ. Nên có bản đồ thế hệ để dễ đọc, dễ nhận. Mỗi chi, mỗi họ nên làm nhiều bản để tránh thất lạc.
4. Tộc ước: là các quy ước của dòng họ nhằm điều chỉnh những hành vi ứng xử trong cộng đồng gia tộc, những điều khuyến khích, răn đe.

Ngày trước, thường một họ có nhà thờ họ và ruộng họ để canh tác lấy hoa lợi thờ cúng. Một đại gia đình cũng có gian thờ ở nơi ngành trưởng và ruộng hương hỏa để lấy hoa lợi cúng giỗ. Khi phân chia tài sản, thường con trai trưởng được nhiều hơn phần nhà, phần ruộng mục đích để dùng vào các việc ấy. Nếu các con cháu mai sau không may sa sút, thì việc cúng giỗ vẫn được duy trì, con cháu không phải gánh giỗ, góp giỗ. Nếu không có ruộng hương hỏa thì cũng phải tạo ra quỹ giỗ. Nếu không có thì mỗi lần giỗ trong gia đình hay trong họ cứ phải đóng góp, nhất định gặp khó khăn.

Tổ chức

Một đại gia đình, một chi họ hay một họ đều có ba chức sắc đương nhiên:
1. Trưởng họ, trưởng chi, trưởng… là người đứng đầu ngành trưởng.
2. Thủ họ, thủ chi, thủ… là người cao vai nhất trong họ, trong chi.
3. Nhất họ, nhất chi, nhất… là người cao tuổi nhất trong họ, trong chi.

Ngày trước, các Cụ ông lấy nhiều Cụ bà nên chênh lệch tuổi giữa các con trưởng và con út rất xa và có khi con bà sau phải gọi con bà trước là anh, chị dẫn đến chênh lệch nhiều giữa vai và tuổi. Người cao tuổi phải tôn trọng người cao vai và người cao vai phải tôn trọng người cao tuổi.
Lẽ tự nhiên là ba vị trên lãnh nhiệm vụ điều hành việc trong họ (đặc biệt là người trưởng), nhưng có thể do ít tuổi, do sức yếu, do quá bận vì mẹ già con dại, hoặc quá bức bách vì kinh tế túng thiếu, hoặc ở xa,… Nên trong họ, trong chi cần chọn những người có tiêu chuẩn: có tâm, có sức, có thời gian, có điều kiện kinh tế, có năng lực làm việc, sinh hoạt thường xuyên trong họ, trong nhà… Bầu ra Ban trị sự gồm có: thư ký, kế toán, thủ quỹ (đặc bệt là người thư ký kiêm thống kê) để cùng ba vị chức sắc đương nhiên điều hành mọi việc trong họ, trong chi. Ban trị sự mỗi nhánh nên có người tham gia và 2 hoặc 3 năm một lần bầu lại nhằm vào ngày giỗ.
Những người này gọi là Hội đồng gia tộc.

Hội đồng gia tộc bầu ra Chủ tịch và Phó chủ tịch. Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch nên là Thư ký hoặc Trưởng họ, Thủ họ hay Nhất họ. Nhiệm vụ:
1. Điều hành giỗ, cúng, lễ, tết;
2. Thăm mừng các việc vui, buồn trong họ;
3. Chạp mộ, giữ gìn, tu tạo phần mộ;
4. Hướng dẫn, đôn đốc việc làm giấy ghi sổ họ theo họ, chi họ và gia đình;
5. Ghi chép vào sổ họ và các chi họ các việc: sinh đẻ, cưới, mất, lên lão, tậu đất làm nhà, mở hiệu, tai nạn, ốm đau, thi đỗ, công tác, khen thưởng,…;
6. Theo dõi việc triển khai và thực hiện quy ước trong họ;
7. Lập kế hoạch thu, chi, đôn đốc thu và kiểm soát chi, cuối năm báo cáo công khai, hoặc hoàn thành việc báo cáo công khai;
8. Đặc biệt quan tâm việc thu tiền, mua đất dựng nhà thờ;
9. Theo dõi các diễn biến trong họ, ghi chép để cuối năm chuẩn bị báo cáo tổng kết và đề ra dự án hoạt động của họ năm sau, trình bày trong cuộc họp họ đầu năm;
10. Quan hệ với trong họ (nếu là chi họ), với các họ khác trong làng, xóm;
11. Tham gia với Ban liên lạc họ của huyện, tỉnh và các nơi khác;
12. Giải quyết các bất đồng trong họ.


(còn tiếp)

Apr 15, 2013

Suy nghĩ về việc thờ cúng tín ngưỡng

Bài viết về mấy suy nghĩ về việc thờ cúng, tín ngưỡng ở các làng xã và các khu đô thị của đồng bằng Bắc Bộ.


Ta thường nói nước ta Tam giáo (Nho, Đạo, Thích) hòa hợp hay Tam giáo đồng lưu. Trong một làng thường có Chùa thờ Phật; có Đình thờ Thành Hoàng; có Điện thờ Mẫu, thờ Đức Thánh Trần; … Làng có nhiều người đỗ đạt thì có thêm Văn chỉ thờ Khổng Tử. 
Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, nhiều nơi có thêm nhà thờ các anh hùng liệt sỹ.

1. Chùa th Pht: (hay đo Thích) là rõ nét nht, th đc Thích Ca Mu Ni – Pht t sáng lp ra Đo Pht và các B Tát, La Hán, … chùa có Sư tr trì, nhân dân, nht là các bà, tun rm đến l, bái, tng kinh, nim Pht; c nước có Hi Pht giáo, có giáo lý phong phú, có t chc rõ ràng. Thường t chc các l Vu Lan, l Nhương Tinh gii hn, …

2. Đình thờ Thành Hoàng: thì không thống nhất, nơi thờ Thiên thần, nơi thờ Nhân thần, phần lớn là các vị có công lao rất lớn đối với nhân dân, đất nước, cá biệt có những thần sự tích mơ hồ (thậm chí không chính đáng!). Đình làng thường là nơi hội họp các cụ để bàn công việc của làng, xã. Đình cũng là nơi tổ chức lễ hội, hát chèo, ca trù, …

3. Văn chỉ (thường các làng có nhiều người đỗ đạt mới có): thờ Đức Khổng Tử, Tiên sư đạo Nho, thường có Văn Trinh Công phối hưởng, có bia đá khắc tên những người thi đỗ Tiến sĩ, Cử nhân,… thời trước, và là nơi hội họp của những người học hành, đỗ đạt, hay có sinh hoạt thơ văn.

4. Đền, Từ, Miếu, Quán, Điện (tên gọi không thống nhất): gần như là đạo Giáo, ta gọi tắt là Đạo. Người xưa coi Lão Tử (sống cùng thời với Khổng Tử) là Tổ sư của Đạo Giáo, nhưng giáo lý không nhiều, các thế hệ kế tiếp không phát triển, các đại diện không rõ ràng. Ta hình dung như đạo tu tiên, nơi điện thờ cũng không thống nhất, mỗi nơi một khác, thờ lẫn cả Văn Xương Đế Quân, Đức Thánh Trần, Quan Công, … và nhiều điện thờ Mẫu Liễu Hạnh. Trước đây là nơi hay tổ chức Giáng bút, lên đồng, hát chầu văn,…

5. Nhà thờ Bác Hồ và các anh hùng liệt sỹ: nơi làm to hơn, nơi làm nhỏ hơn, nơi có nhà bia liệt sỹ, nơi có nghĩa trang. Cá biệt có những nơi đặt cả bàn thờ bác Hồ và bia liệt sỹ ở Đình.

Tôi thiển nghĩ:

Việc quản lý xã hội cần phải làm song song cả hai mặt: Chính sách pháp luật và Tình cảm tâm linh. Một khu dân cư (các làng xã hay các khu đô thị mới) khoảng trên dưới 1 vạn người mà xây dựng cả 5 nơi thờ tự riêng biệt thì rất tốn kém, nên chăng ta xây dựng một Khu Tín ngưỡng tâm linh, có thể chia thành 5 gian lớn như sau:

1. Gian thờ Phật: chỉ nên làm một pho tượng đức Thích Ca, tiếp hàng dưới là 3 pho tượng Trúc Lâm tam tổ, biểu tượng của Phật giáo Việt Nam.

2. Gian bên phải (từ ngoài nhìn vào) thờ 4 vị: Thánh Gióng, Thánh Tản, Thánh Chử và Tiên Dung, Thánh Mẫu, là những vị thần huyền thoại Tứ BấtTử của nước ta.
  • Thánh Gióng: tượng trưng cho tình yêu đất nước, chống ngoại xâm, bảo vệ Độc lập dân tộc.
  • Thánh Tản: tượng trưng cho tình yêu đồng bào, chống thiên tai, bảo vệ Hạnh phúc dân sinh.
  • Thánh Mẫu: tượng trưng cho tình yêu thiên nhiên, chống phá hoại, mở mang Văn minh dân trí.

3. Tiếp gian bên phải: thờ Đức Khổng Tử, hàng dưới là Văn Trinh Công là Vạn thế sư biểu Việt Nam.

4. Gian bên trái thờ Thành Hoàng làng (nếu đã thờ từ trước), nếu chưa có, ta nên thờ các vị Anh hùng cứu quốc nước ta có công tích cực kỳ lớn lao với dân, với nước như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Thái Tổ, Nguyễn Quang Trung, …

5. Gian tiếp theo bên trái: thờ Bác Hồ và các anh hùng liệt sỹ.

Nội dung hoạt động:

1. Gian thờ Phật: là nơi hoạt động của Chi hội Phật giáo. Ngày tuần rằm, mùng một, ngày Lễ Phật nên có những buổi thuyết giảng giáo lý. Nên xen kẽ dạy ngồi thiền, khí công, dưỡng sinh, xoa bóp, hay dạy làm các bài thuốc dân tộc chữa bệnh cho các đối tượng khác nhau, cho người khuyết tật, nghèo khó,… dạy chữ Hán, Nôm.

2. Gian thờ Tứ Bất Tử: là nơi hoạt động của chi hội văn nghệ dân gian, văn hóa dân tộc. Những ngày cuối tuần, luân phiên với các gian thờ khác, nói chuyện chuyên đề về tôn giáo, tín ngưỡng, thờ cúng, lễ hội,…

3. Gian thờ Khổng Tử: là nơi hoạt động của các chi hội Giáo chức, Văn học, Nghệ thuật, Khuyến học, CLB thơ văn,… tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề về xây dựng xã hội học tập.

4. Gian thờ Thành Hoàng: là nơi hoạt động của các chi hội Lịch sử, hội làng nghề, hội người cao tuổi,… tổ chức nói chuyện chuyên đề đẩy mạnh phát huy truyền thống, phát triển khoa học công nghệ…

5. Gian thờ Bác Hồ và các Liệt sỹ: là nơi hoạt động của ban tư tưởng, hội cựu chiến binh, …   tổ chức nói chuyện học tập truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng, tận hiếu với dân, tận trung với nước, cần kiệm liêm chính…

Hướng tới:

  • Nhà nước ta nên thống kê các nơi thờ tự công cộng, phân biệt rõ các vị thần của Việt Nam, của nước ngoài, Thiên thần, Nhân thần. thần có sự tích rõ ràng và có sự tích mơ hồ, thần có công tích lớn lao và thần có sự tích không chính đáng. Có thể quyết định bãi bỏ những nơi thờ tự không hợp đạo lý.
  • Nhà nước cũng nên thống kê các tôn giáo: phân loại trong nước, nước ngoài du nhập vào. Tóm tắt các giáo lý cơ bản, chủ yếu của từng tôn giáo, phân biệt giáo lý cực đoan, phi lý, có hại đến đời sống, sức khỏe nhân dân – đạo lý dân tộc, đến tình đoàn kết cộng đồng thì nên có hướng bài trừ.
  • Nhà nước ta có nên chăng tôn Phật giáo làm Quốc đạo; Đạo Phật đã đồng hành từ rất xa xưa với toàn dân tộc dựng nước và giữ nước. Đặc biệt có Thiền giáo Trúc Lâm biểu tượng cho Phật giáo Việt Nam. Triết lý của Đạo Phật có thể coi là rất cận chân lý, xuất thế nhập thế đều vận dụng được, thực tế lịch sử đã chứng minh sự đóng góp rất tích cực của Phật Giáo trong cả quá trình lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc.

Trong bài viết này, tôi chưa đề cập đến thờ cúng gia tiên ở gia đình và tổ tiên ở các nhà thờ họ.

Tôi không có được đầy đủ thông tin, trình độ lại hạn hẹp, chỉ xin viết lên những suy nghĩ ban đầu về việc thờ cúng và tín ngưỡng ở làng xã và các khu đô thị của đồng bằng Bắc Bộ. Có thể còn sơ lược và nhiều điều chưa thật chính xác.

Rất mong bạn đọc chỉ giáo!

Viết xong ngày 01 tháng 10 năm 2008, tại Hà Nội.

Đỗ Quang Liên
(thuộc hội cựu giáo chức Việt Nam)


Apr 5, 2013

Suy nghĩ về Ca trù



Như quý vị đã biết, vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 01 tháng 10 (tức 14 giờ 45 phút giờ Việt Nam), năm 2009, tại Abu Dhabi, thuộc các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Ca Trù của Việt Nam đã chính thức được Tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục Liên Hợp Quốc (UNESCO) ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.

Gần đây, các nhà Kiều học Nguyễn Quảng Tuân, nhà thơ Hoài Yên, Tiến sỹ Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện đã viết, sáng tác, tập hợp, ấn hành nhiều bài, nhiều sách về Ca trù.

Hoạt động trước đây của câu lạc bộ thơ Sông Tô và hiện nay của Tổ Hán Nôm Lạc Đạo cũng có một mảng sáng tác và phiên dịch về những bài Hát nói Ca trù.

Chúng tôi có sưu tầm được 14 bài Ca trù bằng chữ Hán và 4 bài chữ Nôm (phần lớn là Khuyết danh) và đã phiên âm, dịch ra nguyên thể. Nay, chúng tôi xin lần lượt đăng tải lên blog này, mong các độc giả phủ chính cho. Bên cạnh đó, rất hy vọng các độc giả tiếp tục sưu tầm để các bài Ca trù chữ Hán, chữ Nôm của người xưa được công chúng thưởng thức.

Chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất các ý kiến:

  • Các nhà văn, nhà thơ nên sáng tác thêm thể Hát nói Ca trù bên cạnh những bài thơ Thất ngôn bát cú, vốn rất đang phổ biến ở nhiều CLB thơ. Trong những buổi sinh hoạt thơ, những tập thơ nên có một mảng là những bài hát nói. Những ngày kỷ niêm 5, 10, 15 năm, … của các CLB thơ trong chương trình nên chăng có thêm phần hát Ca trù.

  • Hội người cao tuổi nên vận động các gia đình, dòng họ, phường xã khi tổ chức lễ mừng thọ cho các cụ 70, 75, 80, 85, v.v… nên có thêm một phần hát Ca trù.

Chúng tôi suy nghĩ làm như vậy sẽ tạo điều kiện cho sinh hoạt Ca trù được duy trì và phát triển, góp phần giữ vững danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể (cần được bảo vệ khẩn cấp) của Việt Nam đã được thế giới công nhận.


Đỗ Quang Liên
Nguyên chủ nhiệm CLB thơ sông Tô


Xin bổ sung:

Chúng tôi cũng xin mạnh dạn lần lượt đăng lên đây khoảng 100 bài Hát nói đã sáng tác, đã họa theo thể Hát nói bằng chữ Hán và chữ Quốc ngữ.


Chân thành mong quý vị độc giả chỉ giáo!


Apr 1, 2013

Tổng kết 20 năm hoạt động (16/09/1992 - 28/12/2012)

Bài phát biểu nhân dịp kỷ niệm 20 năm hoạt động của tổ Hán Nôm Lạc Đạo, câu lạc bộ thơ Hán Việt Pháp


Chúng ta đã tổng kết 5 năm, 10 năm và 15 năm; ngày nay qua 20 năm sinh hoạt, chúng ta có thể nêu lên mấy vấn đề để cùng nhau bàn bạc:

Từ ngày 16 tháng 09 năm 1992, với 7 người, ngày đầu thành lập, nhóm những người yêu thơ Hán Nôm đã xác định mục tiêu: Tìm hiểu, học tập thơ văn Hán Nôm, từng bước tập viết, phiên âm, dịch nghĩa, nhằm sử dụng được tư liệu Hán Nôm của gia đình, dòng họ, quê hương. Sau là tập làm thơ, câu đối Hán Nôm nhằm ca ngợi thiên nhiên, đất nước, con người; Đồng thời cũng để bộc bạch tâm sự qua những vần thơ, vế đối.

Tới giờ, chúng ta có thể nói: hoạt động văn hóa Hán Nôm gồm 7 phần:


1. Chữ Hán
2. Chữ Nôm
3. Các luật thơ, câu đối, từ, phú (xin được tạm gọi là Thi pháp)
4. Các chữ kiểu chân, thảo, lệ, triện… (xin được tạm gọi là Thư pháp).

Bốn phần này, một người hoạt động Hán Nôm cần phải hội đủ, ít ra cũng ở một mức độ nào đó (không biết thi pháp thì dịch hoặc hiệu đính thơ sai, không đọc được các kiểu chữ thì không thể tra từ điển và phiên dịch được). 

Thời đại tin học, vi tính, ta phải thêm vào phần thứ 5 là:
5. Tin học, vi tính Hán Nôm: Giúp ta soạn thảo văn bản thay cho viết và đánh máy chữ trước đây, nhất là để tra cứu, tìm hiểu được những kiến thức đông tây, kim cổ.

Cả 5 phần học hỏi đã khá, ta còn cần phổ biến rộng rãi, gần như là mở lớp để truyền thụ lại cho những người chưa biết nhưng yêu quý chữ Hán Nôm của tổ tiên, như vậy ta thêm vào đó phần thứ 6 là:

6. Truyền thụ văn hóa Hán Nôm (xin tạm gọi là Văn hóa).
Tiếp theo, ta nên cố gắng phiên dịch thơ văn Hán Nôm của Việt Nam ra quốc âm, chữ nước ngoài (Anh, Pháp, v.v…) để những người Việt Nam, kể cả người nước ngoài không biết chữ Hán Nôm tiếp cận được những di sản văn tự, văn hóa (tôi coi đây là một trong những phần quan trọng nhất) Việt Nam, như vy ta thêm phần thứ 7 là:


7. Phiên dịch thơ văn Hán Nôm ra quốc ngữ, chữ Pháp, chữ Anh, v.v…

Cả 7 phần trên, về nhận thức và tổ chức của Tổ Hán Nôm Lạc Đạo được dần dần phát triển: 

- Thành lập tổ Thư pháp từ năm 1995, đến tháng 10/2002 do bác Thế Anh làm tổ trưởng, hiện bác Thế Lục thay; 
- Thành lập nhóm Dịch thơ chữ Hán từ tháng 09/2002, sau đổi là tổ Hán Việt (tức tổ Hán Nôm Lạc Đạo); tháng 09/2004 bác Giao làm tổ trưởng, hiện nay bác Long thay, có bác Liên, sau thêm bác Khoan làm hướng dẫn. 
- Thành lập tổ Hán Pháp tháng 04/2003 có 19 người, tháng 08/2004 bác Ba làm tổ trưởng, hiện nay bác Chân thay. 
- Thành lập tổ Vi tính tháng 06/2010, bác Hào làm tổ trưởng, bác Hiển làm tổ phó. 

Tên gọi qua nhiều lần thay đổi 

- Từ tháng 16/09/1992, với 7 người thành lập, đặt tên là Nhóm yêu thơ Hán Nôm
- Tháng 08/1995, gọi là Tổ thơ Hán Nôm (sau gọi là Tổ thơ Hán Nôm Hà Nội); 
- Ngày 08/04/2005 chuyển thành Câu lạc bộ thơ Hán Việt Pháp (thuộc hội Cựu giáo chức Việt Nam) do gợi ý của bác Trần Thân Mộc (tham gia tổ thơ tháng 12/1999) với hy vọng hai việc: 

1. Thêm nhiều thầy, nhiều bạn giỏi chữ Hán Nôm, Pháp, Anh, … 
2. Ấn hành được nhiều tập thơ Hán sáng tác và thơ dịch từ Hán ra Việt, Pháp, Anh, … 

Nhưng 7 năm qua, ước nguyện chưa thành, hội viên là nhà giáo gia nhập chưa đến 10 người và sách xuất bản cũng không phát hành được. Ta cần xem lại việc vận động của câu lạc bộ. 

Nơi họp cũng có thay đổi 

Suốt 20 năm sinh hoạt, các tổ đều họp ở nhà bác Đỗ Quang Liên, nhưng từ tháng 06/2009, tổ Hán Nôm ra họp ở chùa Cảm Ứng, với ý nghĩ:
1. Chùa có thể là trụ sở lâu dài cho tổ Hán Nôm (không như ở nhà các hội viên) 
2. Tổ Hán Nôm có thể phát triển thêm hội viên là Thích tử và Phật tử, vì đạo Phật gắn liền với Kinh, Kệ chữ Hán Nôm. 
3. Mời được nhà sư trụ trì tham gia ban lãnh đạo tổ và có thể mở lớp để phổ biến chữ Hán Nôm được rộng rãi hơn. 

Nhưng 3 năm qua, yêu cầu chưa đạt, hội viên chưa thêm được Thích tử, Phật tử nào. Có thể việc vận động của CLB chưa tốt hoặc Phật giáo thời mạt pháp, giai đoạn mở cửa, kinh tế thị trường chưa có điều kiện quan tâm. 

Sinh hoạt của Tổ cũng có những biến đổi 

- Tổ Hán Nôm: họp mỗi tháng một kỳ, vào sáng thứ Hai lần thứ hai trong tháng;  
- Tổ Hán Pháp: họp mỗi tháng một kỳ, vào sáng thứ Ba lần thứ ba trong tháng; 
- Tổ Hán Việt: trước họp tháng một kỳ; từ tháng 09/2011 họp tháng hai kỳ vào sáng thứ Hai lần đầu tiên và lần thứ tư trong tháng;
- Tổ Thư pháp gần đây chỉ nhóm họp những khi sắp cần trưng bày các biểu chữ viết;
- Tổ vi tính từ khi thành lập vào tháng 06/2010, họp sáng thứ Sáu hàng tháng tại nhà bác Vũ Ngọc Giao, sau khi các tổ viên đã nắm được cách làm thì chỉ nhóm họp khi cần thiết. Qua hơn 2 năm đã có nhiều tổ viên thông thạo và thường chủ dộng trao đổi với nhau;
- Đã tổ chức thêm tổ Hán Việt A: hướng dẫn cho những người mới học và viết chữ Hán từ 25/10/2012 vào các buổi chiều thứ Năm do bác Liên phụ trách (bước đầu có 6 người). 

Nội dung hoạt động

1. Tổ lõi Hán Nôm:

Gồm các tổ viên đã ít nhiều biết chữ Hán, chữ Nôm, thi pháp, thư pháp và vi tính. Nhưng do tuổi cao, sức yếu, còn dành thì giờ cho những đam mê khác, nên qua nhiều năm, thực tế chưa tiến bộ bao nhiêu. Nhiều người quá nặng nề về sáng tác thơ văn chữ Hán. Dù vốn sống rất phong phú, ý từ dồi dào, nhưng vốn từ chưa đủ, ý nghĩa từng từ đặt vào văn cảnh khác nhau hiểu không cặn kẽ, thì khi viết lên 2 câu thực - luận của bài bát cú hoặc những cặp biền ngẫu trong bài phú sẽ rất khiên cưỡng, xộc xệch, mắc phải sai sót “dĩ từ hại ý”. Kể ra, nên bắt chước người xưa “thi thiên, phú bách” đọc và dịch nhiều thơ, văn của cổ nhân để bồi dưỡng kiến thức cho đủ tầm tối thiểu.

Những năm qua, ta đã phiên dịch chữ Nôm, dịch thơ văn chữ Hán được khá, đã hình thành Tủ sách cổ truyền song ngữ Hán, Nôm - Việt đối chiếu, đã phiên dịch hơn 1000 bài thơ tứ tuyệt chữ Hán nhằm phục vụ dài hơi cho tổ Hán Pháp chuyển dịch ra ngoại ngữ. Tuy vậy, số thời gian các tổ viên dành cho việc dịch thơ văn Trung Quốc khá nhiều, có thể do yêu cầu của các Nhà xuất bản hoặc sở thích cá nhân. Nhưng so với mục đích của câu lạc bộ là học tập và phổ biến văn hóa Hán Nôm Việt Nam, ta có thể coi là chưa đúng hướng. Nhiều tập thơ Đường được quá nhiều người Việt Nam dịch đi dịch lại, in đi in lại, trong khi nhiều thơ văn của tổ tiên thì chưa thấy ai dịch và Nhà xuất bản nào phát hành.

Nên chăng, chúng ta nên có suy nghĩ về vấn đề này!

2. Tổ Thư pháp:

Còn ít nhiều người mang nặng tính ăn xổi, nhìn vào từng mẫu chữ Thảo để vẽ chữ. Để viết được chữ đúng và đẹp, đầu tiên cần học kỹ lưỡng từng nét, từng bộ, từng chữ cấu thành chữ đó, hiểu được nghĩa chữ và phải tập viết phóng, viết buông thuần thục thể chữ Chân, cái gốc cho các thể chữ Hành, Thảo, … Ta đã tập hợp được các tư liệu: cách tập viết chữ Hán, bản Lan đình tự chữ chân, bản Đằng vương các tự chữ Hành, 71 bài Thiên gia thi chữ Thảo, Thảo quyết ca, Tam tự kinh và Thiên tự văn tứ thể Chân - Thảo - Lệ - Triện và các câu, chữ viết đầu xuân, v.v… gần như một giáo trình về thư pháp, tiếc rằng chưa triển khai được, do người ít tuổi đam mê thư pháp trong CLB không nhiều.

3. Tổ Hán Việt:

Qua nhiều năm còn nhập nhằng giữa việc trao đổi, dịch thơ với việc học tập chữ Hán, mỗi tháng chỉ sinh hoạt 1 kỳ, nên trình độ nhích lên rất chậm. Hiện giờ đã sửa lại, nâng lên thành 2 kỳ và có chương trình học chữ, học viết, học luật thơ rõ ràng. Đã thành lập thêm Tổ Hán Việt A học mỗi tuần 1 buổi cho người mới học, hy vọng việc học chữ Hán sẽ toàn diện hơn.

4. Tổ Hán Pháp:

Gồm nhiều người (hiện nay đông nhất, gần 20 thành viên) biết tiếng Pháp, tiếng Anh, cả tiếng Nga, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Đức, v.v… Tuy nhiên về chữ Hán chưa chắc. Để dịch được bài thơ chữ Hán ra các chữ khác, đầu tiên cần hiểu đầy đủ nội dung, tình ý của bài, trong phần này tổ có làm, nhưng chưa thật kỹ, tổ viên có trao đổi nhưng chưa thật sâu, nên khi dịch ra tiếng Việt, Pháp, Anh có những chỗ chưa đúng. Để đạt được “Suy minh tác giả tâm” (nói lên được tâm hồn tác giả) như Phan Huy Chú đã viết, tổ ta còn phải phấn đấu nhiều. Và để dịch được thơ chữ Hán ra tiếng nước ngoài, người dịch cần có vốn ngôn ngữ và văn hóa nước đó ở mức độ nhất định. Vốn ấy, CLB chúng ta chưa đều. Có thể ta chỉ nên dịch ra như văn xuôi hoặc ghép thêm cho có vần, chứ gò cho đủ chân, đúng luật thì đôi khi là khiên cưỡng và quá sức, mặc dầu CLB ta trước đây đã cùng nhau trao đổi về “phép làm thơ Pháp văn” và sau này có tham khảo tài liệu “giới thiệu thơ ca Pháp”.

Ta đã ấn hành 3 tập thơ: Thăng Long thành, 35 bài thơ chữ Hán của Bác Hồ (ngoài Nhật ký trong tù), và 60 bài thơ tứ tuyệt chữ Hán của danh nhân Việt Nam; gần đây ấn hành tập thơ 40 bài chữ Hán dịch ra tiếng Việt và Pháp, tập thơ này chọn mỗi bài thơ chữ Hán kèm nhiều bài dịch của tổ viên. Mục đích của ta là tranh thủ giới thiệu được nhiều tư liệu Hán Nôm của tổ tiên với hy vọng bạn đọc sẽ đọc kỹ hơn các văn bản và dịch lại tốt hơn ra các ngữ khác

Ta đã dịch được đến 180 bài. mà chỉ giới thiệu được chưa đến 1/4 là chưa thích đáng. 

5. Tổ Vi tính: 

Tuy mới thành lập, tổ viên nhiều người cao tuổi, mắt yếu, nhưng hoạt động khá sôi nổi, đã giới thiệu CLB lên mạng internet, vào trang Thi viện, nhiều tổ viên đã đưa rất nhiều bài dịch với nhiều thứ tiếng: Hán, Việt, Pháp, Anh, Nga, … mở nhiều chuyên mục. Nhưng kiểm điểm với mục đích xác định của CLB thơ Hán Việt Pháp là học tập và phiên dịch thơ văn Hán Nôm Việt Nam ra tiếng Việt, Pháp, Anh, thì thấy việc đưa các bài dịch lên trang thơ của CLB còn đang lẫn lộn. Phiên dịch thơ văn các ngữ khác và đưa tác phẩm lên mạng là sở thích của từng người, nhưng đưa vào trang thơ của CLB ta, nên đảm bảo đúng mục đích đã xác định.

6. Về Thi pháp: 

Ta không thành lập tổ, chỉ đưa ra xen kẽ giới thiệu trong các buổi sinh hoạt. Ta đã sưu tầm, phiên dịch được 10 bài Ca trù chữ Hán, chọn dịch trên 10 bài Từ, các bài theo thể thơ: Đối Hán thi Nôm liên hành, thi ca liên hành, thể liên vận 2 câu bằng trắc có vần lưng, thể liên vận đối, v.v… và cả văn sách thi đình. Nhiều thể loại thơ giáng bút ở các Thiện đàn (ta nên chăng tổng hợp, nghiên cứu và đánh giá đúng mức tác dụng giáo dục và vận động quần chúng của mảng văn thơ này).

Tuy thế, việc trao đổi, bàn bạc còn rất hạn chế, hầu như nhiều người chỉ quen làm thể Thất ngôn bát cú Đường luật với những câu thực, luận, đối chưa chặt, còn phạm nhiều khuyết điểm kỹ xảo như: bình đầu, tịnh cước, phong yêu, …  

Là một tổ, lúc đầu thành lập chỉ có 7 người, khi đông nhất có đến 80 người (kể cả hội viên qua thư ở các tỉnh bạn); qua 20 năm hoạt động, 34 người đã mất, 22 người già yếu không đến dự được, thực tế còn trên 40 người sinh hoạt, thì trong đó chỉ có dưới 10 người là dưới 70 tuổi. CLB duy trì và phát triển sao đây? 

Thế mà Tổ Hán Nôm Lạc Đạo vẫn ngày đêm hy vọng làm một mảy manh nha cho một tổ chức sau này: Hội Hán Nôm Việt Nam. Ta có Hội Lịch sử, Hôi Khảo cổ học, Hội Dân tộc học, Hội Di sản văn hóa, Hội Kiều học, hội thơ các kiểu, … Ngay tại nước Mỹ, hội Bảo tồn di sản chữ Nôm đã được thành lập năm 1999 (sau tổ Hán Nôm 7 năm). 

Nếu các vị thức giả, các vị có uy tín đồng tâm – đồng ý – đồng chí - đồng tình, thì Hội Hán Nôm Việt Nam nhất định sẽ được thành lập.  

Viết xong ngày 06/11/2012 
Đỗ Quang Liên
Tổ trưởng tổ Hán Nôm Lạc Đạo